TRUNG TÂM GIAO LƯU VĂN HÓA NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM

 

Ông Lương Đình Của học nông học ở Đại học Tokyo và Đại học Kyushu còn Ông Ngữ học ngành y ở Đại học Tokyo. Sau này còn có ông Nguyễn Xuân Oánh một nhà hoạt động tích cực trong lĩnh vực kinh tế cũng sang học tại Đại học Tokyo. Một thời gian dài sau đó vì Nhật Bản chỉ quan hệ ngoại giao với chính quyền Sài Gòn cũ (Việt Nam Cộng hoà) nên lưu học sinh Việt Nam sang Nhật khi đó chỉ do chính quyền đó cử đi. Đ• có những người  xuất sắc như nhà nông học Võ Tòng Xuân, nhà toán học Huỳnh Mùi… và một số nhà hoạt động quốc tế như nhà sử học Vĩnh Sính, nhà kinh tế học Trần Văn Thọ.

Tháng 6 năm 1969, những người Việt Nam đầu tiên trong số lưu học sinh ở Nhật đ• thành lập tổ chức người Việt Nam tại Nhật để đấu tranh cho hoà bình và thống nhất Việt Nam nhằm triển khai phong trào phản đối chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.

Việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Nhật Bản và nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (DCCH) năm 1973 đ• tạo điều kiện cho lưu học sinh từ nước Việt Nam DCCH sang Nhật học. Tuy nhiên, những năm 1970 tiếp đó, tình hình lưu học sinh của nước Việt Nam DCCH sang Nhật cũng không tiến triển mấy.

Vì lý do chính trị, năm 1979 Nhật Bản đình chỉ viện trợ kinh tế cho Việt Nam và tình hình này kéo dài đến 1992. Mặc dù Chính phủ Nhật Bản ngừng việc viện trợ kinh tế nhưng không bỏ giao lưu văn hoá nên việc nhận lưu học sinh sang Nhật vẫn được tiếp tục tuy chưa nhiều.

Nếu theo dõi chỉ số lưu học sinh Việt Nam được nhận vào Đại học Tokyo chúng ta thấy từ năm 1981 có 13 người, đây là con số khá nhiều. Bởi họ là những lưu học sinh từ thời chính quyền Sài Gòn và nay vẫn còn học tiếp lên tiến sỹ ở các Viện đại học. Con số 13 người nếu nhìn riêng từng nước trong số lưu học sinh ở Đại học Tokyo là con số đứng vị trí thứ 6 sau Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Mỹ, Pháp. Vào những năm 70 lưu học sinh Việt Nam chiếm số lượng nhiều hơn các nước Đông Nam á khác.

Cho đến đầu những năm 1980  khi Nhật Bản mở lại viện trợ kinh tế cho Việt Nam, lưu học sinh người  Việt Nam ở Đại học Tokyo luôn luôn có từ 2 -3 người. Việc tăng số lưu học sinh Việt Nam  ở Đại học Tokyo có thể nói bắt đầu từ năm 1993 trở đi. Từ năm 1994 có nhiều lưu học sinh Việt Nam sang Nhật với tư cách là sinh viên hệ đại học chính quy 4 năm. Sau đây là các số liệu thống kê.

Năm 1981 là 13 người, giữa năm 1997 là 16 người sau đó năm 1998 là 22 người và năm 1999 là 28 người, năm 2000 là 34 người, năm 2001 là 58 người, năm 2002 là 66 người. Các con số này càng về sau càng tăng lên một cách nhanh chóng. Con số 66 người năm 2002 là con số đứng thứ 5 sau các nước như Trung Quốc 646 người, Hàn Quốc 481 người, Đài Loan 126, Inđônêxia 72 người.

Nếu nhìn vào nội dung cụ thể thì thấy sinh viên có 26 người, thạc sỹ 26 người và tiến sỹ là 14 người. Và số sinh viên đứng sau con số sinh viên Trung Quốc là 59 người. Tình hình nhận lưu học sinh Việt Nam trên toàn nước Nhật cũng tương tự như trường hợp Đại học Tokyo. Tổng số lưu học sinh ở Nhật đứng vị trí thứ 10 và theo như sách của Bộ Khoa học giáo dục Nhật Bản đ• nêu: thì năm 1998 lưu học sinh người Việt Nam học ở Nhật có 468 người, chiếm vị trí thứ 9 sau Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia, Inđônêxia, Mỹ, Thái Lan, Bangladet. Số lưu học sinh của Việt Nam sang Nhật tăng dần và đến năm 2002 đ• vượt qua con số 1000 người, tức là 1115 người. Đây là vị trí thứ 8 sau Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia, Inđônêxia, Thái Lan, Mỹ.

2. Sự gia tăng số lượng lưu học sinh nước ngoài sang Nhật Bản những năm gần đây

Việc Nhật Bản gia tăng nhận lưu học sinh là một chính sách quan trọng của Chính phủ Nhật Bản. Trong Sách trắng của Bộ Khoa học giáo dục năm Heisei 14 (2000) đ• viết về vấn đề này như sau: “Cùng với việc xúc tiến phát triển quốc tế hoá trong nghiên cứu và giáo dục của nước ta với các nước khác, giao lưu quốc tế thông qua lưu học sinh sẽ đem lại không khí mới cho sự hợp tác quốc tế và xúc tiến hiểu biết quốc tế hơn. Hơn thế, đối với các nước đang phát triển đây là sự cống hiến to lớn cho việc đào tạo nhân tài của nước họ. Đồng thời cũng hy vọng rằng khi về nước lưu học sinh sẽ là cầu nối quan trọng trong việc tăng cường, phát triển mối quan hệ hữu nghị tin tưởng lẫn nhau  giữa nước ta và từng nước chủ nhà”.

Trên cơ sở này, nước ta xây dựng một chính sách quan trọng nhất xuất phát từ  quan điểm “cống hiến quốc tế về trí tuệ” trong xúc tiến giao lưu học sinh để phát triển tổng hợp các chính sách khác.

Việc Chính phủ Nhật Bản đưa ra mục tiêu và nhận số lượng lưu học sinh lên 10 vạn người bắt đầu từ năm 1983. Khi đó số lưu học sinh nước ngoài được Nhật Bản nhận học cũng vượt quá 1 vạn người nhưng so với các nước phát triển khác vẫn còn kém.

Kế hoạch sẽ nhận 1 vạn lưu học sinh, những năm 1980 vẫn tiến hành đều đặn. Vào những năm 1990 số lưu học sinh đ• vượt quá 4 vạn người nhưng vào những năm 1990 con số này khó đạt. Năm 1994 đạt đến 53.787 người, sau đó khuynh hướng này kết thúc. Bắt đầu từ năm 1999 số lưu học sinh tăng lên một cách nhanh chóng. Trước năm 1999 tỉ lệ tăng là 8,7% với số lượng 55.755 người. Năm 1999 tăng vọt, năm 2000 tăng 14,8% so với năm trước và số lượng là 64.011. Năm 2001 là 23,1% so với năm trước với số lượng là 78.812 người, năm 2002 tăng 21,2% so với năm trước với số lượng là 95.550 người. Như vậy kế hoạch con số 10 vạn người sẽ đạt được.

Một nguyên nhân cơ bản làm cho số lượng lưu học sinh sau năm 1999 đến Nhật tăng lên là do sự phát triển kinh tế của các nước châu á đ• vượt qua được cuộc khủng hoảng tiền tệ. Số lượng gia đình có khả năng cho con đi du học bằng tiền của mình tăng lên. Hơn một nửa số lưu học sinh gia tăng trong thời kỳ này là những lưu học sinh tự đóng học phí. Nếu so sánh năm 2002 với năm 1998 thì tổng số lưu học sinh từ 51.298 người đ• tăng lên là 95.550 người, tăng 44.242 người.

Lưu học sinh được chính phủ nước ngoài cử đi và lưu học sinh được nhận học bổng của Chính phủ Nhật Bản năm 2002 so với năm 1998 có giảm chút ít. Ngược lại lưu học sinh tự túc từ 41.390, người năm 1998 lên tới 86.024 người năm 2002. Con số  44.634 trong thời gian này chủ yếu là lượng lưu học sinh tự túc tăng chiếm tỷ lệ cao nhất trong số lưu học sinh tự túc là Trung Quốc và số lưu học sinh tự túc của Trung Quốc năm 1998 là 21.010 người, năm 2002 là 56.924 người, tăng 35.914 người.

Khuynh  hướng lưu học sinh tự túc tăng trong thời gian này cũng tương tự đối với sinh viên người Việt Nam. Tỷ lệ lưu học sinh tự túc chiếm trong tổng số lưu học sinh của Việt Nam năm 1998 tăng là 43,6%, nhưng năm 2002 đ• tăng lên 60,3%. Chi phí tự túc có nghĩa là tự trả, không phải Nhà nước Nhật hoặc nước chủ nhà gửi đi mà bao gồm cả những người nhận được học bổng của đại học tư  và các tổ chức tư nhân khác ở Nhật Bản cho nên điều cần chú ý là không phải tất cả những lưu học sinh tự túc đều sử dụng tiền của mình để sang Nhật Bản học. Thực tế cho thấy, ở Trung Quốc hay Việt Nam những năm gần đây do kinh tế đ• phát triển hơn nên dù phải tự túc nhưng số lưu học sinh du học vẫn tăng lên.

Nguyên nhân sự  gia tăng lưu học sinh gần đây là do sự  cố gắng lớn của phía Chính phủ Nhật Bản dựa theo kế hoạch nhận 10 vạn lưu học sinh, đồng thời các trường đại học Nhật Bản cũng rất tích cực trong việc thu nhận lưu học sinh nước ngoài, đặc biệt là lưu học sinh từ các nước châu á.

ở Nhật Bản do tình trạng “giảm dân số trẻ em” nên dự báo đến năm 2009, lứa tuổi 18 sẽ chỉ có gần 1 triệu 200 ngàn người. Tổng số người muốn vào đại học dự đoán sẽ từ 80 vạn hiện tại còn 70 vạn, giảm 10 vạn. Vì thế, đối với các trường đại học Nhật Bản trong tương lai vấn đề đảm bảo đủ số lưu học sinh là vấn đề khó khăn. Do tình hình như vậy đối với đại học Nhật Bản, các lưu học sinh, đặc biệt là lưu học sinh từ các nước châu á gia tăng những năm gần đây là đối tượng rất quan trọng và có triển vọng rõ ràng.

Hơn thế, trong xu hướng toàn cầu hoá, các trường đại học Nhật Bản cũng phải cạnh tranh quốc tế hoá gay gắt. Nhận được bao nhiêu học sinh cũng thể hiện sự cạnh tranh quốc tế  của các trường đại học và là một thực tế dễ hiểu. Vì vậy ở Nhật Bản một số ít trường đại học nổi tiếng phải đối diện với vấn đề “thiếu học sinh” như đ• trình bày ở trên, cũng phải tích cực trong việc cạnh tranh nhận lưu học sinh.

Việc coi trọng số lượng gia tăng củalưu học sinh nhìn từ quan điểm kinh doanh đại học đương nhiên là phải kể đến các trường đại học tư. Năm 1997 Trường Waseđa ở Tokyo là một trường đại học tư đại diện cho phía Đông Nhật Bản đ• thành lập Trung tâm nghiên cứu Châu á – Thái Bình Dương. Năm 2000, Đại học Ritsumeikan là đại học tư thục có quy mô lớn ở Tây Nhật Bản đ• thành lập Đại học Châu á – Thái Bình Dương Ritsumeikan ở Kyushu. Các cơ sở này đại diện cho việc nhận số lượng lớn lưu học sinh từ các nước châu á – Thái Bình Dương. Chỉ tính riêng Đại học Châu á – Thái Bình Dương và của trường Đại học Ritsumeikan tuy mới thành lập chưa đầy 3 năm (tính đến tháng 9/2003) nhưng đ• tiếp nhận gần 100 lưu học sinh Việt Nam và là một trong những trường đứng đầu trong số đại học Nhật Bản nhận lưu học sinh người Việt Nam nhiều nhất.

Các trường đại học quốc lập Nhật Bản từ năm 2004 cũng chuyển sang chế độ “pháp nhân hoá”nghi• là phải tìm kiếm nỗ lực bản thân về mặt tài chính liên quan tới tính tự lập. Đại học Tokyo tháng 3 năm 2003 đ• xây dựng ”Hiến chương Đại học Tokyo tương đương với Hiến pháp của Đại học và trong đó nhấn mạnh việc coi trọng Châu á như là phương châm cơ bản của Đại học Tokyo. Với mục tiêu là: “Đại học Tokyo luôn luôn ý thức về việc mình là một đại học có vị trí  ở Châu á nên phải tăng cường hơn nữa với các nước Châu á phát huy sở trường nghiên cứu khoa học đ• được tích luỹ, xúc tiến mới giao lưu với các nước trên thế giới”.

“Đuổi kịp phương Tây và vượt phương Tây” đ• là phương châm cơ bản của công cuộc hiện đại hoá ở Nhật Bản từ thời kỳ Minh Trị. Hiện nay Đại học Tokyo vẫn là trường đại học luôn hướng tới mục tiêu hiện đại hoá quốc gia. Trường Đại học Tokyo là trường đại học xây dựng theo mẫu hình phương Tây và là trường đại học giới thiệu khoa học phương Tây ở Nhật và ứng dụng của nó. Tuy nhiên, việc hướng tới phương Tây từ nhiều năm qua đ• là xu thế tất yếu. Còn việc đề xướng xu thế hướng về Châu á trong Hiến chương hiện đang là sự chuyển đổi to lớn trong lịch sử phát triển của Đại học Tokyo.

3. Triển vọng của việc  tăng lưu học sinh người Việt Nam

Gần đây, số lượng lưu học sinh người Việt Nam sang Nhật Bản tăng một cách nhanh chóng và con số đứng hàng thứ 4 trong các nước ASEAN hiện nay (năm 2002). Malaixia 1.885 người, Thái Lan 1.504 người và Inđônêxia 1.441 người. Việc lưu học sinh Việt Nam  đạt chỉ số ngang với các nước ASEAN có lẽ cũng không khó mấy. Tôi cho rằng số lượng lưu học sinh Việt Nam rất có khả năng tăng gần mức các nước Đông á khác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan. Vì các lý do sau:

– Thứ nhất, bởi vì kỹ thuật chuyên môn mà Nhật tích luỹ được trên con đường hiện đại hoá là chủ đề lớn và có sức hấp dẫn đối với Việt Nam. Điều này nó liên quan đến vấn đề sang Nhật lưu học lĩnh vực khoa học tự nhiên. Ngoài ra, giao lưu giữa các nhà nghiên cứu Nhật Bản và Việt Nam trong lĩnh vực khoa học x• hội và nhân văn, cũng đ• ngày càng phát triển hơn.

Thực tế là những năm gần đây số những nhà khoa học tự nhiên Nhật Bản quan tâm đến Việt Nam tăng lên một cách nhanh chóng. Các nhà nghiên cứu, các giáo sư của Trường Đại học Tokyo thăm Việt Nam năm 2001 lên tới 102 người. Quá nửa trong số đó là các nhà khoa học tự nhiên. Sau những năm 1990 trở đi số người Việt Nam nhận học vị tiến sỹ, thạc sỹ, cử nhân tiếp thu nền giáo dục tiên tiến trong lĩnh vực tự nhiên ở đại học Nhật Bản tăng lên một cách rõ rệt.

Những nhà khoa học tự nhiên trẻ Việt Nam chắc chắn sẽ trở thành lực lượng lớn  trong giao lưu khoa học với Nhật Bản.

– Thứ hai, sau khi Liên Xô tan r• một số lượng lớn lưu học sinh không có nước nào nhận theo quy định nữa. Cùng với quan hệ ngoại giao, việc gửi lưu  học sinh  cũng theo  phương châm “đa dạng hoá”. ở đây Nhật Bản có thể đóng vai trò lớn trong việc thay thế nhận lưu học sinh từ nước “chậm tiến”. Ngoài ra số lưu học sinh sang Nhật học có khả năng trở về nước khá cao nên không phải lo nhiều về vấn đề này, chính đó là điểm thuận lợi. ở Đông á số lưu học sinh sang Mỹ có rất nhiều trường hợp không về nước. X• hội Nhật Bản hiện nay đang nỗ lực trong vấn đề quốc tế hoá do đó không bắt chước tính “phóng khoáng” của những quốc gia di dân như Mỹ. Nhật Bản tuy có nhược điểm đối với người nước ngoài là nơi “khó sống” nhưng lại có mặt tốt trong việc trả đầy đủ lưu học sinh về nước.

Thứ ba là hiện nay đa số sinh viên  người Việt Nam không biết chữ Hán cho nên trong việc học tiếng Nhật có nhiều điểm bất lợi hơn sinh viên người Trung Quốc, Hàn Quốc là những nước có kiến thức chữ Hán. Nhưng khi đ• đạt đến một trình độ nhất định có thể biểu thị chữ quốc ngữ bằng chữ Hán thì có thể nói là rất tiện vì  từ vựng tiếng Việt và tiếng Nhật có cùng chung ý nghĩa  trong ngôn ngữ chuyên ngành khoa học x• hội. Có nghĩa là Việt Nam trước kia nằm trong khu vực văn hoá chữ Hán nên không mất đi thế lợi đó.

Tất nhiên không phải vì ba yếu tố này mà cho rằng học sinh từ Việt Nam thời gian tới  chắc chắn sẽ tăng lên. Để tăng hơn nữa lưu học sinh, không thể thiếu được sự phát triển ổn định trong quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Vì thế phía Nhật phải cố gắng tạo điều kiện cho các trường đại học Nhật Bản trở thành những cơ quan giáo dục có sức thu hút đối với sinh viên Việt Nam, đồng thời cần phải điều chỉnh lại chế độ học bổng thích hợp hơn cho sinh viên người Việt Nam. Ngoài du học tại Nhật Bản, mục tiêu khác cho tương lai là các trường đại học Nhật Bản hoặc các viện đại học sẽ xây dựng các chi nhánh tại Việt Nam.

Hy vọng đối với Việt Nam, thứ nhất tất nhiên là phổ cập dạy tiếng Nhật.  Nhưng hiện nay nhiều trường đại học của Nhật Bản đ• dạy cho sinh viên nước ngoài bằng tiếng Anh nên yêu cầu trình độ tiếng Nhật cao không trở thành điều kiện bắt buộc nữa. Mặc dù như vậy, việc nâng cao trình độ tiếng Nhật của thanh niên Việt Nam vẫn là động lực cơ bản nhất  để tăng lưu học sinh ở Nhật Bản. Tại ba nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan đều có những trường trung học phổ thông có thể học được tiếng Nhật ở trình độ khá cao.

Việc dạy tiếng Nhật ở trình độ cao đẳng, gồm cả lưu học sinh có hay không là vấn đề chiến lược trong quan hệ Việt Nam với Nhật Bản mà phía Nhật Bản đang xem xét. Một vấn đề nữa tuy không liên quan trực tiếp đến quan hệ với Nhật Bản nhưng cũng có tác dụng tích cực cho việc tăng lưu học sinh Việt Nam sang Nhật, đó là vấn đề  phục hồi lại dạy chữ Hán ở trong giáo dục cao đẳng ở Việt Nam. Đây là phương sách kết nối truyền thống dân tộc đối với thanh niên hiện đại ở Việt Nam, nếu thực hiện được thì thanh niên Việt Nam học ở trình độ cao đẳng có thể hiểu được chữ Hán cơ bản ở một trình độ nhất định và đây là cơ sở quan trọng để nâng cao năng lực học tiếng Nhật và qua đó giúp cho ta hiểu biết về Nhật Bản càng sâu  rộng hơn.