TRUNG TÂM GIAO LƯU VĂN HÓA NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM

Phân loại tài liệu là một trong các quy trình xử lý thông tin, xử lý tài liệu nhằm mục đích tổ chức kho tài liệu, tổ chức bộ máy tra cứu thông tin, tổ chức các mục lục, các cơ sở dữ liệu v.v…trong các cơ quan thông tin, các thư viện cũng như các cơ quan khác có hoạt động tư liệu với mục đích phục vụ bạn đọc và người dùng tin đạt hiệu quả cao.

I/ Khung phân loại thập tiến Nhật Bản

1. Khái quát:

Phương pháp phân loại thập tiến Nhật Bản (Nippon Decimal Classification NDC) được sửa đổi lại lần thứ 9 vào tháng 8 năm 1995 sau 17 năm đ• được sửa đổi lần thứ 8 vào năm 1978 (gọi tắt là NDC 8).

Biểu phân loại thập tiến Nhật Bản lần đầu tiên được tiến hành tại Thư viện Kyoto, sau đó được phổ cập vào năm 1909. Năm 1919 lại được lựa chọn, sửa đổi theo biểu phân loại thư viện chuẩn tại hội nghị các thư viện nhà nước. Sau đó được sửa đổi lần nữa và được phổ cập ở các thư viện công cộng.

2. Hình thức phân loại:

Hình thức phân loại mang tính chung để có thể áp dụng chung cho việc phân loại sách. Ngoài ra còn có cả hình thức phân loại đặc biệt để áp dụng được cho mỗi loại chương mục phân loại và các loại biểu phân loại đặc biệt.

a) Chủ đề + hình thức: Đầu tiên phân loại theo chủ đề, tiếp theo đó nếu thấy cần thiết thì phân loại theo hình thức.

b) Chủ đề phức: Tập hợp chủ đề là số phức thì phân loại theo chủ đề chính. Nếu không có chủ đề chính, trường hợp có dưới 3 chủ đề thì sẽ phân loại theo chủ đề đầu tiên. Trường hợp có từ 4 chủ đề trở lên thì phân loại theo chủ đề cấp bậc cao.

Ví dụ: Chủ đề ” Phật giáo, Thiên chúa giáo, Đạo hồi, Thần đạo khác nhau ở chỗ nào”(Tuyển tập Đại pháp luận ) sẽ phân loại như sau: Phật giáo (180), Thiên chúa giáo (190), Đạo Hồi (167), Thần đạo (170). Trong ví dụ này “Khác nhau ở chỗ nào” được phân loại là 165 (Tôn giáo).

c) Quan hệ gây ảnh hưởng: Trường hợp chủ đề này gây ảnh hưởng đến chủ đề khác thì theo nguyên tắc sẽ phân loại theo chủ đề bị ảnh hưởng. Nhưng trường hợp một cá nhân gây ảnh hưởng đến số đông người thì phân loại theo phía cá nhân.

d) Mối quan hệ nhân quả: Trường hợp này phân loại theo lớp kết quả.

e) Quan hệ trên dưới: Phân loại theo chủ đề trên. Nhưng nếu chủ đề trên có tính trừu tượng và phạm vi quá rộng thì phân loại theo chủ đề dưới.

g) Đối chiếu so sánh: Phân loại theo hướng được so sánh. Hơn nữa còn được phân loại theo hướng mà tác giả cho là trọng điểm.

h) Lý luận và thực tế: Phân loại theo hướng thực tế.

i) Chủ đề và tài liệu: Phân loại theo hướng chủ đề để giải thích.

k) Tác giả chủ đạo và tác giả có liên quan: Theo nguyên tắc phân loại theo hướng tác giả chủ đạo như sách dịch, phê bình, hiệu đính, nghiên cứu, giải thích, từ điển…

m) Chủ đề mới: trường hợp chủ đề không có mục phân loại thích hợp với biểu phân loại thì phân loại theo chương mục được cho là có quan hệ gần nhất với chủ đề hay phân loại theo chương mục mới.

3.Biểu phân loại:

a) Khái quát: NDC được phân làm 9 lớp.

0 Tổng hợp       3 Khoa học x• hội       6 Công nghiệp  9 Văn học

1 Triết học. Tôn giáo    4 Khoa học tự nhiên     7 Nghệ thuật    

2 Lịch sử. Địa lý           5 Kỹ thuật        8 Ngôn ngữ     

Trong lớp 4 khoa học tự nhiên lại được chia theo

4.1       Toán học          4.4       Thiên văn học   4.7       Thực vật học

4.2       Vật Lý  4.5       Khoa học địa cầu, địa lý học     4.8       Động vật học

4.3       Hoá học           4.6       Sinh vật học, sinh vật học nói chung       4.9       Y học, dược học

b) Giải thích các lớp:

+ Lớp 0: Tập hợp các nguồn tư liệu thông tin, các tư liệu mang tính tổng hợp. Ví dụ: hướng dẫn dùng từ (039), từ điển bách khoa (031/038), tạp chí (049), niên giám (059), hội nghị, đoàn thể (060/068), báo chí (071/077)…

+ Lớp 1: Phân loại chủ đề có liên quan đến các hoạt động tinh thần. Ví dụ: triết học (110/159), tôn giáo (160/199), tâm lý (140/149), lý luận (150/159)…

+ Lớp 2: Phân loại tác phẩm có liên quan đến khu vực. Ví dụ: Lịch sử (200/279), truyện ký (280/289), địa lý (290/299)…

+ Lớp 3: Phân loại chủ đề về x• hội. Ví dụ: chính trị (310/319), pháp luật (320/329), kinh tế (330/339), tài chính (340/349), thống kê (350/358), x• hội (360/369), giáo dục (370/379), phong tục tập quán, dân gian, dân tộc học (380/389)…

+ Lớp 4: Phân loại chủ đề khoa học tự nhiên.

+ Lớp 5: Phân loại chủ đề khoa học kỹ thuật dùng trong các ngành công nghiệp. Ví dụ: Kỹ thuật các ngành công nghiệp 2 (510/589), kỹ thuật sàng lọc quặng dùng cho ngành công nghiệp 1 (561/562, 567/569).

+ Lớp 6: Phân loại chủ đề các ngành nông, lâm, thuỷ sản ( 610/669), thương nghiệp ( 670/678), vận tải (680/689), thông tin (690/699).

+ Lớp 7: Phân loại chủ đề nghệ thuật. Ví dụ: nghệ thuật (700/779), thể dục, thể thao (780/789), mỹ thuật (710/759), âm nhạc (760/768), vũ đạo, Ba lê (769), kịch (770/777), phim ảnh (778).

+ Lớp 8: Chủ đề phân loại các loại sách có liên quan đến ngôn ngữ. Bước đầu phân loại theo các loại ngôn ngữ. Sau đó dựa vào khu vực ngôn ngữ để phân loại các ngôn ngữ đó.

+ Lớp 9: Phân loại chủ đề các tác phẩm văn học đặc biệt. Loại sách nghiên cứu văn học nghiên cứu theo chủ đề nhưng lại phân loại dựa vào nghiên cứu tác phẩm và nghiên cứu tác giả.

4. Bảng hỗ trợ: có 6 loại.

a) Phật giáo Thần đạo (178)

b) Phật giáo (188)

c) Giáo phái Thiên chúa giáo (198)

d) Địa lý, địa chí các nước, các khu vực (290/297)

e) Kỹ thuật. công nghiệp (500/580)

f) Các ngành mỹ thuật trừ phim ảnh (700/730, 750/759)

+ Bảng mẫu hình thức: Được biểu hiện ở phần dưới. -01, -03, -07 gọi là bảng mẫu hình thức trong, ngoài ra được gọi là bảng mẫu hình thức ngoài. Theo nguyên tắc thì bảng mẫu hình thức trong thường được ưu tiên.

-01 Vật lý, triết học

-02 Lịch sử, khu vực, địa lý

-03 -04 Luận văn, phê bình, bài giảng, hội nghị

-05 ấn phẩm xuất bản thường kỳ: báo, tạp chí, kỷ yếu

-06 Đoàn thể: Hội nghị, hội giao lưu văn hoá

-07 Giáo dục, phương pháp nghiên cứu, phương pháp chỉ đạo

-08 Toàn tập, tuyển tập

Bảng mẫu hình thức về nguyên tắc có thể sử dụng tất cả các bảng ký hiệu nhỏ. Nhưng trường hợp nó thể hiện như là chương mục phân loại trong các bảng ký hiệu nhỏ, hoặc được đính kèm theo nhưng không mang nghĩa thì không sử dụng bảng mẫu hình thức.

+ Bảng mẫu địa lý được mở rộng từ -02 của bảng mẫu hình thức. Nếu có chỉ thị “* Bảng mẫu địa lý ” ở bảng ký hiệu nhỏ thì trực tiếp  phân loại theo bảng mẫu địa lý. Ví dụ: ” Sử Tư tưởng chính trị hiện đại nước Đức “( Tác giả: Heluman. Hela, yasusefune dịch, Nhà xuất bản Suisho Bo ), thì ký hiệu phân loại 311.234 được thể hiện ở -34 ( Đức, Trung Âu) trong 311.2 ( Sử Tư tưởng chính trị, Sử chính trị học ).

+ Bảng mẫu Hải dương: Là bảng mẫu phân loại xuất hiện lần đầu trong NDC 9, vì thế các ký hiệu được dùng sẽ là: 451.24 ( Khí tượng hải dương, Tạp chí Khí tượng hải dương) 452.2 (Tạp chí Hải dương), 557.78 (Tạp chí sơ đồ đường thuỷ, sơ đồ biển, báo cáo về đường thuỷ ). Nếu gắn trực tiếp ký hiệu các biểu sơ đồ vào ký hiệu phân loại thì càng tốt.

+ Bảng mẫu ngôn ngữ được dùng ký hiệu phân loại văn hoá các nước, thể hiện ở lớp 9, trừ lớp 8 ( Ngôn ngữ ).

Ví dụ: Ký hiệu 980.2 “Lịch sử văn học Nga”(tác giả: Gokki, Yamamura dịch) được thể hiện : 900 ( văn học )+ [8] 80 (Tiếng Nga [ bảng mẫu ngôn ngữ] + (-02) (Lý luận mang tính khu vực, lịch sử) [trừ bảng mẫu hình thức].

+ Bảng mẫu các ngôn ngữ giống nhau: bảng mẫu này được thể hiện ở lớp 8 (ngôn ngữ) cho các chủ đề có chung ngôn ngữ. Nhưng cần chú ý giữa ký hiệu 813 (Từ điển tiếng Nhật) [quốc ngữ ] và ký hiệu 810.33 (Từ điển Nhật ngữ học) [Quốc ngữ học] có sự khác nhau.

+ Bảng mẫu chung dùng cho một số nền văn học tương đồng: bảng mẫu này được thể hiện ở lớp 9 (văn học): các nước có chung nền văn học. Ví dụ: “Zai: tội “và “Batsu: phạt “(tác giả Berfu, Itogawa Toichi dịch, Nhà xuất bản Kunzosha), ký hiệu 983 được thể hiện như sau: 900 (văn học) + [8] 80 Tiếng Nga [từ bảng mẫu ngôn ngữ] + (-3)(Tiểu thuyết, truyện cổ tích).

II/ Khung phân loại đang sử dụng ở các thư viện Việt Nam

1. Lịch sử khung phân loại thư viện và phân loại tài liệu ở Việt Nam:

Theo tài liệu còn lưu lại, chúng ta chỉ biết có khung phân loại của Lê Quý Đôn (1726- 1784), Phan Huy Chú (1782- 1840) và khung dùng trong thư viện triều Nguyễn cả thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Nói chung các khung phân loại này chủ yếu dùng cho sách chữ Hán- Nôm, chịu ảnh hưởng của khung Trung Quốc cổ, mang tính thực dụng đối với sách về văn chương là chủ yếu.

Trong lịch sử thư viện Việt Nam thiếu những tài liệu chi tiết, các thư viện thời phong kiến có rất ít và khép kín. Đến đầu thế kỷ XX nước ta mới có Thư viện Quốc gia. ở Hà Nội, ngoài Thư viện Quốc gia còn có Viện Viễn Đông Bác cổ chuyên nghiên cứu về Đông Dương phục vụ cho một số lượng rất ít các nhà nghiên cứu. Các thư viện này gọi là phân loại theo chủ đề- địa lý. Cách phân loại này chỉ phù hợp với những yêu cầu rất cụ thể của các nhà nghiên cứu thiên về khoa học x• hội và nhân văn chuyên nghiên cứu đất nước học, dân tộc học về xứ Đông Dương thuộc Pháp.

Từ sau năm 1954, công tác thư viện cũng như nhiều lĩnh vực khoa học khác được Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quan tâm. Thư viện học Việt Nam lúc đó bắt đầu hình thành và chịu ảnh hưởng rất mạnh nền thư viện học X• hội chủ nghĩa ở các nước anh em như Liên Xô, Trung Quốc và các nước X• hội chủ nghĩa khác.Tại các thư viện miền Bắc áp dụng khung phân loại của Liên Xô đó là khung phân loại BBK. Trong suốt những năm 1950-60, các thư viện miền Nam dùng khung phân loại DDC cho đến khi đất nước thống nhất vào năm 1975.

Từ những năm 1979-1983 các Thư viện Quốc gia, Viện Thông tin Khoa học x• hội tiếp tục đi sâu nghiên cứu BBK thuộc các ngành khoa học x• hội.

Mỗi khung phân loại đang sử dụng tại các thư viện ở Việt Nam đều có những ưu điểm và ít nhiều hạn chế, khi chúng tồn tại được trước lịch sử và được áp dụng đều có lý do chính đáng và phục vụ cho những nhu cầu cụ thể.

2. Khung phân loại BBK

2.1. Lịch sử:

Năm 1960 khung phân loại BBK ra đời. BBK là tên viết tắt chữ cái đầu của tiếng Nga có nghĩa là Phân loại thư viện – Thư mục. Ngày nay, trong các tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Việt đều dùng từ BBK để chỉ khung phân loại này- Khung phân loại BBK do Thư viện Quốc gia Lênin (nay là Thư viện Nhà nước Nga) chủ trì biên soạn.

Khung phân loại BBK nhằm mục đích chính phục vụ cho các thư viện Liên Xô cho nên các vấn đề thuộc Liên Xô rất được chú ý và luôn được ưu tiên.

2.2. Cấu trúc khung phân loại BBK

a) Bảng chính

Khung phân loại BBK có 28 lớp cơ bản thể hiện bằng 28 chữ cái Nga từ A/     chia thành 6 nhóm chính như sau:

Nhóm 1: Chủ nghĩa Mác- Lênin

Nhóm 2: Các Khoa học tự nhiên

Nhóm 3: Các Khoa học ứng dụng

Nhóm 4: Các Khoa học x• hội

Nhóm 5: Các Khoa học tư duy

Nhóm 6: Các Vấn đề tổng hợp

Vì khung phân loại BBK sử dụng chữ cái Nga đ• trở ngại lớn cho những nơi muốn sử dụng BBK, do vậy vào những năm 1970, BBK đ• được xuất bản dị bản với ký hiệu lớp cơ bản bằng số ả Rập song song tồn tại với BBK có ký hiệu bằng chữ cái ở lớp cơ bản.

Lớp cơ bản của BBK khi đưa vào sử dụng ở Việt Nam cũng đ• được Việt Nam hoá bằng chữ cái Việt và La tinh tương ứng với bảng chữ cái Nga.

Cơ sở khoa học làm nền tảng phân loại của BBK là triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Mọi sự vật và hiện tượng đều được nhìn nhận và sắp xếp theo những nguyên tắc nhất định: Từ đơn giản đến phức tạp, từ toàn thể tới bộ phận, từ chung đến riêng, từ lý thuyết đến thực hành.

BBK không những chỉ mở rộng thêm nhiều lớp cơ bản mà các khái niệm mới thuộc các ngành khoa học kỹ thuật phát triển mạnh ở thế kỷ 20 đ• được đưa vào tương đối đủ.

b) Các bảng trợ ký hiệu:

Hệ thống bảng trợ ký hiệu của BBK gọi là các bảng mẫu. So với NDC thì số lượng bảng trợ ký hiệu của BBK ít hơn song các bảng trợ ký hiệu chuyên ngành lại mở rộng hơn. Ban đầu BBK chỉ có 3 bảng mẫu bao gồm: Bảng mẫu chung, Bảng mẫu riêng và Bảng sắp xếp, Bảng mẫu chung địa lý. Sau này, vào năm 1976 được bổ sung thêm Bảng mẫu các dân tộc.

3. Các dấu hiệu dùng trong BBK

BBK sử dụng khá nhiều dấu hiệu đưa vào hệ thống ký hiệu hỗn hợp. Ngoài các chữ cái hoa và chữ cái thường, BBK còn dùng các dấu hiệu toán học như:

– Dấu cộng (+). Dấu này dùng để kết hợp các ký hiệu phân loại trong một tài liệu. Ví dụ: C3+ C6 ( Tài liệu mới về vật lý và thiên văn ).

– Dấu vạch xiên(/). Dấu này sử dụng để tạo ra ký hiệu phân số thể hiện cách chia nhỏ một khái niệm ra số lượng khái niệm con lớn hơn 10. Ví dụ: Đ23/24 khí tượng học.

– Dấu bằng(=). Dấu này dùng cho ký hiệu mẫu dân tộc.

– Dấu ngoặc đơn( ). Dấu này dùng cho ký hiệu mẫu địa lý và dân tộc. Ví dụ: (5) châu á, (=vie) Dân tộc Việt Nam.

– Dấu chấm(.). Dấu này dùng ngăn cách 3 số ả Rập trong ký hiệu chính, tính từ trái sang phải. Ví dụ: L455.52 Động cơ hai kỳ của tàu thuyền.

– Dấu hai chấm(:). Dấu này dùng để thể hiện mối quan hệ giữa các vấn đề hoặc các ngành khoa học liên quan. Ví dụ:  Z19: C3 Thư mục ngành vật lý.

– Ngoài ra trong BBK cũng dùng dấu ngoặc kép(“”) để thể hiện khái niệm thời gian trong trường hợp cần thiết.

Ví dụ: X 915.1″1945-VII-VIII”.

III/ Nhận xét và đánh giá

1. Khung phân loại BBK:

Được xây dựng trên nền tảng phân loại khoa học hiện đại của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, BBK đ• thể hiện sự kết hợp giữa phân loại khoa học và phân loại tài liệu. BBK đ• kế thừa những ưu điểm của các khung phân loại DDC và UDC và các khung phân loại khác, cố gắng khắc phục những nhược điểm của các khung phân loại trước đó. Nếu so sánh BBK với hệ phân loại thập tiến có thể thấy:

5 lớp nhóm 2 tương đương với lớp 5 NDC

10 lớp nhóm 3 tương đương với lớp 6 của NDC

10 lớp nhóm 4 tương đương với các lớp 2,3,4,7,8,9 của NDC

2 lớp nhóm 5 và nhóm 1 tương đương với các lớp 1 của NDC

1 lớp nhóm 6 tương đương với lớp 0 của NDC

Các khái niệm khoa học hiện đại đ• được đưa vào BBK và các nhà khoa học cũng đ• dành chỗ cho các vấn đề khoa học mới được tiên đoán sẽ xuất hiện trong tương lai. Các ngành khoa học như nghiên cứu vũ trụ, sinh học, điện tử, máy tính v.v… đ• có những vị trí thích đáng. Tuy nhiên BBK còn có những nhược điểm cần khắc phục.

– Ký hiệu chữ cái Nga dùng cho lớp cơ bản. Tuy đ• được khắc phục bằng chữ số ả Rập nhưng cấu trúc ký hiệu còn phức tạp và ở một số ngành chưa hoàn hảo, gây khó khăn cho người sử dụng.

– Vấn đề ứng dụng của các bộ môn khoa học còn thiếu ở nhiều vị trí như: toán ứng dụng, vật lý ứng dụng, tin học ứng dụng.

– Khung phân loại BBK dùng chủ yếu cho các thư viện Liên Xô. Vì thế những vấn đề về Liên Xô được mở rộng và được ưu tiên, chiếm tỷ lệ không cân đối so với các đề mục khác.

– Chủ đề trong khung phân loại BBK thiên về phân chia khái niệm theo thể chế x• hội như chủ nghĩa x• hội, chủ nghĩa tư bản làm cho người sử dụng khung phân loại khó lựa chọn ký hiệu.

2. Khung phân loại thập tiến Nhật Bản:

Được xây dựng trên nền tảng cơ bản của khung phân loại DDC (Dewey), được mở rộng và phát triển cho thích hợp với việc phân loại sách ở Nhật Bản. Khung phân loại NDC đ• đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền Thư viện học Nhật Bản và có ý nghĩa rất lớn trong sự nghiệp phân loại thư viện, tư liệu nói chung. Nguyên tắc thập tiến trong NDC thể hiện các thứ bậc trong khung phân loại đẳng cấp một cách khoa học, dễ hiểu và dễ sử dụng. Với cùng một loại khái niệm được thể hiện bằng cùng những con số trong các ngành khoa học khác nhau, chúng được coi như những đề mục mẫu ở khắp mọi vị trí trong khung phân loại.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm rất lớn, khung phân loại NDC còn có một số hạn chế: nguyên tắc thập tiến chỉ cho phép chia nhỏ các khái niệm ra 10 lớp con, có trường hợp chưa dùng hết 10 số có thể có ký hiệu dự trữ, song những trường hợp cần chia nhỏ các khái niệm trên 10 lớp con không thực hiện được, do vậy đ• có nhiều trường hợp phải giải quyết bằng cách quy ước do bị khống chế bởi 10 số.

Ví dụ: Trong NDC đ• ghép nghệ thuật với thể thao (lớp 7), ghép lịch sử với địa lý (lớp 2). Về mặt kết cấu các ngành khoa học, khung phân loại này cũng còn có những điểm chưa hợp lý như tách rời ngôn ngữ (lớp 8) với văn học (lớp 9), tách rời lịch sử (lớp2) với khoa học x• hội (lớp3).

Kết luận

Khung phân loại BBK đang được dùng rộng r•i ở các thư viện ở Việt Nam, nhưng chủ yếu là các thư viện miền Bắc. Nó đ• đóng góp rất nhiều cho lịch sử phân loại thư viện Việt Nam. Tuy có nhiều ưu điểm lớn song cho đến nay khung phân loại BBK đ• bộc lộ ra nhiều hạn chế cần phải khắc phục để có thể phù hợp với xu thế tin học hoá trong thời đại ngày nay.

Khung phân loại thập tiến Nhật Bản NDC tỏ ra là một khung phân loại có nhiều ưu điểm. Khung phân loại này có khả năng giải quyết và hỗ trợ được những hạn chế trong khung phân loại BBK. Trong tương lai, các thư viện Việt Nam cần phải có một khung phân loại mới cho phù hợp với thực trạng của Việt Nam, phù hợp với xu thế chung của thời  đại. Khung phân loại mới này cần dựa trên cơ sở của khung phân loại NDC, song khắc phục được những hạn chế của khung NDC, đưa vào những ưu điểm của BBK, tạo ra một khung phân loại ưu việt, hiện đại nhằm áp dụng cho các thư viện ở Việt Nam. Một điểm nữa cũng cần nhấn mạnh trong ý tưởng này, đó chính là phần mềm thư viện đang được sử dụng trong các thư viện Việt Nam. Các thư viện hiện nay đang sử dụng phần mềm CDS/ISIS for windows (Marc 21). Nhưng nếu kết hợp với khung phân loại mới được xây dựng dựa trên nền tảng của khung phân loại NDC thì nên sử dụng phần mềm Japan Marc, đó là phần mềm thư viện hiện đang được sử dụng trong các thư viện của Nhật Bản. Phần mềm này rất tỷ mỉ, nhanh nhạy và tiện lợi cho việc xử lý sách.