TRUNG TÂM GIAO LƯU VĂN HÓA NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM

Năm 2001, năm khởi đầu của thiên niên kỷ mới, thế giới nói chung và Nhật Bản nói riêng có rất nhiều biến động trên tất cả các lĩnh vực, trong đó, chính trị không phải là một ngoại lệ.

Nói như vậy, cũng có nghĩa là chúng ta không thể nhìn Nhật Bản biệt lập với thế giới cũng như tách các vấn đề chính trị của Nhật Bản ra khỏi các lĩnh vực khác và càng không thể cô lập năm 2001 với tư cách là một năm, cho dù đó là một năm quan trọng, ra khỏi dòng chảy của năm tháng.

Quán triệt quan điểm trình bày như vậy, trong bài viết này, tác giả cố gắng làm rõ bức tranh hiện thực chính trị sôi động của Nhật Bản năm 2001.

1. Chuẩn bị sửa đổi hiến pháp

Năm 2001 là năm Nhật Bản có những bước chuẩn bị để đi đến việc sửa đổi Hiến pháp của mình một cách tích cực. Sự tích cực đó được triển khai trên nhiều vấn đề cụ thể. Nó thể hiện việc chuyển từ quan điểm “sửa đổi hay không sửa đổi Hiến pháp” sang quan điểm “sửa đổi Hiến pháp như thế nào”.

Cốt lõi cần tranh c•i xung quanh việc sửa đổi Hiến pháp là điều 9. Sửa đổi điều này có nghĩa là nâng cao vai trò của Nhật Bản trên trường quốc tế, có nghĩa là làm cho Nhật Bản trở thành một quốc gia bình thường, có nghĩa là khẳng định lòng tự tin dân tộc của người Nhật. Nhưng ngược lại sự thay đổi đó cũng khơi dậy nỗi đau thất bại trong lòng nhân dân Nhật, đồng thời thể hiện sự hiếu chiến của Nhật Bản dưới con mắt của những nước đ• từng bị Nhật Bản xâm lược. Điều đó quy định những người chủ trương thay đổi Hiến pháp phải có những biện pháp linh hoạt. Đó là, phương pháp thứ nhất lấy chính sách đối ngoại để tác động, để vi phạm điều 9 theo phương pháp góp gió thành b•o, tích tiểu thành đại để cuối cùng thay đổi chính điều này. Phương pháp thứ hai là lấy việc khơi dậy lòng tự hào dân tộc để tác động, điều chỉnh quan điểm của các nước khu vực – Những nước phản đối Nhật Bản có lực lượng quân sự riêng.

Trong năm qua, Nhật Bản đ• phối kết hợp cả phương pháp thứ nhất và phương pháp thứ hai thông qua hai việc cụ thể sau:

1.1. Tích cực giành ghế thường trực Hội đồng Bảo an của Liên hiệp quốc

Chúng ta biết rằng Hội đồng Bảo an (HDBA) Liên hiệp quốc là hội đồng có trách nhiệm giữ hòa bình, bảo vệ an ninh trên thế giới và áp đặt các biện pháp trừng phạt. Điều đó cho thấy rằng như một lôgích tất yếu nếu nước nào tham gia vào HĐBA thì nước đó phải có phương tiện quốc phòng mạnh và nếu tham gia với tư cách là ủy viên thường trực thì sức mạnh quốc phòng của các thành viên đó lại càng là một yếu tố đòi hỏi không thể thiếu. Tất nhiên ở đây có chiều thứ hai là khi Nhật Bản trở thành ủy viên HĐBA nhất là uỷ viên thường trực thì vị trí của Nhật Bản sẽ được nâng cao hơn, điều này sẽ đáp ứng được lòng tự hào dân tộc của đa số nhân dân Nhật Bản nên tất yếu sẽ được nhiều người ủng hộ.

Tại cuộc họp của Đại hội đồng Liên hiệp quốc khóa 49 tháng 9/1994, Ngoại trưởng Nhật Kono thay mặt Chính phủ Nhật Bản chính thức yêu cầu Liên hiệp quốc chấp thuận để Nhật Bản trở thành thành uỷ viên thường trực HĐBA.

Để làm được điều đó, Nhật Bản duy trì mức đóng góp 20% ngân sách cho Liên hiệp quốc, đứng hàng thứ 2 sau Mỹ. Cách làm này của Nhật Bản đ• bị chỉ trích là sử dụng chiến thuật ngoại giao tiền bạc. Năm qua Nhật Bản tích cực vận động các nước ủng hộ kế hoạch tăng số ghế Hội đồng Bảo an từ 15 lên 24 để có nhiều cơ hội gia nhập ủy ban này hơn. Nhật Bản tích cực vận động bằng chính trị, ngoại giao và tài chính để các nước bỏ phiếu cho Nhật Bản. Chuyến đi ra nước ngoài đầu tiên trong năm đầu của thiên niên kỷ thứ 3 của Thủ tướng Nhật Bản Mori tháng 1/2001 thăm các nước á, Phi, Mỹ la tinh nằm trong chiến lược vận động các nước ủng hộ Nhật Bản trở thành thành uỷ viên thường trực của HĐBA Liên hiệp quốc. Về vấn đề này, Thủ tướng đương nhiệm Koizumi từng lập luận rằng: nếu Nhật Bản trở thành ủy viên thường trực HĐBA Liên hiệp quốc trong khi Hiến pháp chưa được sửa đổi thì khi cần sử dụng lực lượng tham gia giải quyết xung đột Nhật có thể viện lý do Hiến pháp không cho phép để từ chối việc này. Tình huống đó xảy ra sẽ là căn cứ để cộng đồng quốc tế phê phán Nhật Bản thiếu trách nhiệm. Nói cách khác thì nếu không sửa đổi điều 9 của Hiến pháp hiện hành thì việc Nhật Bản trở thành ủy viên thường trực HĐBA Liên hiệp quốc chỉ là hành động lừa dối cộng đồng quốc tế và cả nhân dân Nhật Bản .

1.2. Sự kiện 11/9 hối thúc Nhật Bản tăng cường trách nhiệm trong việc thực hiện Hiệp ước an ninh Nhật – Mỹ

Việc xác lập, ký kết hiệp ước an ninh với Mỹ của Nhật Bản ngay từ đầu đ• có ý kiến xem  là vi phạm Hiến pháp. Đến mức độ, nó được trao cho Toà án tối cao với chức năng xem xét các đạo luật có vi phạm Hiến pháp hay không, xét xử. Năm 1959, Toà án tối cao Nhật Bản đ• ra phán quyết rằng Hiệp ước an ninh Nhật – Mỹ là không vi phạm Hiến pháp với lý do là Hiệp ước mang tính chính trị cao độ và việc phán quyết nội dung đó có vi phạm Hiến pháp hay không thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Ngày 18/10/01, sau sự kiện ngày 11/9 làm rung chuyển nước Mỹ, Hạ nghị viện Nhật Bản đ• thông qua các luật mới mở đường cho việc sớm cử lực lượng phòng vệ  (SDF) tham gia giúp đỡ hậu cần cho chiến dịch chống khủng bố do Mỹ đứng đầu ở Apganistan. Theo các luật này thì SDF có thể cung cấp thuốc men và giúp đỡ về hậu cần cho quân đội trong mọi hoạt động chống Apganistan do Taliban cầm quyền, nhưng sẽ không được phép hoạt động trong các “khu vực tác chiến”. Cho phép SDF tiến hành các hoạt động tìm kiếm và trợ giúp những người tị nạn. Việc sử dụng vũ khí của SDF được mở rộng để đáp ứng sự cần thiết phải bảo vệ “tính mạng và thân thể” của bản thân người tị nạn, lính Mỹ bị thương và các nhân viên cứu trợ khi họ thuộc diện chăm sóc của SDF. Tuy nhiên, dự luật vẫn cấm SDF tiến công hoặc đe dọa dùng vũ lực, cung cấp vũ khí,  đạn dược ra ngoài l•nh thổ, trực tiếp nạp nhiên liệu, sửa chữa máy bay chuẩn bị xuất phát chiến đấu. Luật cũng cho phép SDF có trách nhiệm bảo vệ các phương tiện của quân đội Mỹ ở Nhật Bản, cái mà trước đây là trách nhiệm chỉ riêng của cảnh sát quốc gia và lực lượng bảo vệ bờ biển. Luật cũng cho phép lực lượng bảo vệ bờ biển có nhiều quyền hạn trong việc sử dụng vũ khí chống lại những tầu khả nghi xâm nhập l•nh hải nhằm ngăn chặn sự trốn tránh của các phần tử khủng bố hoặc tiến hành các cuộc kiểm tra.

Như vậy có thể nói bằng sự kiện 11/9 Nhật Bản đ• đẩy lên một bước sự phát triển tiềm lực quân sự của mình. Mặt khác chúng ta biết rằng trong cuộc chiến chống khủng bố, người ta không thể phân biệt đâu là chiến trường đâu là hậu phương như các cuộc chiến tranh cổ điển.

Những sự thay đổi về lượng như vậy đến một lúc nào đó sẽ phải làm ảnh hưởng đến Hiến pháp và buộc nó phải thay đổi như là một tất yếu chính trị.

2. Nhà nước Nhật Bản năm 2001 – Những biến động tiền đề cho những thay đổi tiếp theo

2.1. Những biến động trong nhánh Lập pháp

Kể từ cuộc Tổng tuyển cử tháng 6/2000, Đảng Dân chủ – Tự do (DCTD) chỉ chiếm được 233 ghế trong tổng số 480 ghế trong Hạ nghị viện và cho đến tháng 10/2001 đảng này luôn không chiếm được quá 1/2 số ghế. Sau hơn một năm vật lộn, thu nhận thêm các nghị sĩ độc lập nên đến ngày 29/10/2001 với thắng lợi ở hai cuộc bầu cử bổ sung ở tỉnh Hiyagi miền Bắc và tỉnh Shiga ở miền Tây đ• đưa số ghế của Đảng DCTD lên con số 241 trong tổng số 480 ghế của Hạ nghị viện. Thắng lợi này đ• giúp Đảng DCTD thoát khỏi sự phụ thuộc thái quá vào hai đảng nhỏ trong liên minh là Đảng Komei mới và Đảng Bảo thủ.

 Trong năm 2001, bầu cử Thượng nghị viện của Nhật Bản có một số nét mới. Nếu như số ghế của Thượng nghị viện trước đây là 252 thì sau lần bầu cử tháng 7/2001 số ghế còn lại là 247. Sở dĩ có điều đó là do năm 2000 Nhật Bản đ• thông qua luật bầu cử Thượng nghị viện sửa đổi. Theo luật này thì số ghế của Thượng nghị viện sẽ giảm từ 252 xuống còn 242. Trước đó, luật quy định Thượng nghị viện có nhiệm kỳ là 6 năm và cứ 3 năm bầu lại 1/2 số ghế, 152 Thượng nghị sĩ được bầu theo kiểu khu vực bầu cử lớn ứng với 47  tỉnh của Nhật Bản, 100 Thượng nghị sĩ được bầu theo khu vực bầu cử tỉ lệ phiếu các đảng thu được ở một khu vực duy nhất toàn quốc. Năm 2001, năm đầu tiên thực hiện dự luật mới này, có 152/2 – 3 = 73 Thượng nghị sĩ được bầu theo khu vực bầu cử lớn và 100/2 – 2 = 48 Thượng nghị sĩ được bầu theo khu vực bầu cử tỉ lệ toàn quốc.

Cuộc bầu cử Thượng nghị viện vào tháng 7/2001 đ• đưa lại thắng lợi cho cả liên minh cầm quyền và các Đảng đối lập. Theo h•ng tin Reuters phát đi từ Tokyo ngày 30/7/2001 thì kết quả cuộc bầu cử Thượng nghị viện Nhật Bản công bố cùng ngày cho thấy: ba đảng trong liên minh cầm quyền đ• giành thắng lợi với 78 ghế trong số 121 ghế bầu lần này, trong đó Đảng DCTD được 64 ghế, Đảng Komei mới được 13 ghế và Đảng Bảo thủ được 1 ghế. Còn lại 43 ghế thì Đảng Dân chủ được 26 ghế, Đảng Tự do được 6 ghế, Đảng Cộng sản được 5 ghế, Đảng X• hội Dân chủ được 3 ghế, các ứng cử viên không đảng phái được 3 ghế. Như vậy, Đảng DCTD đ• tăng được 2 ghế và Đảng Dân chủ đối lập tăng thêm được 4 ghế. Kết quả này rất phấn khởi đối với cả liên minh cầm quyền lẫn đảng đối lập do chỗ số ghế của họ tăng trong khi số ghế trong Thượng nghị viện thực chất đ• bị rút bớt đi 5 ghế. Kết quả lại càng có ý nghĩa  quan trọng đối với liên minh cầm quyền do chỗ liên minh này vẫn chiếm được đa số(140 ghế trên 247 ghế) trong Thượng nghị viện. Điều đó cũng có nghĩa là cho đến tháng 6/ 2004 nếu Hạ nghị viện không bị giải tán trước thời hạn thì chừng nào liên minh này còn được duy trì các chính sách của họ đều được thực thi dễ dàng ngoại trừ việc sửa đổi Hiến pháp cần có trên 2/3 số phiếu thuận và các đạo luật liên quan trực tiếp đến một địa phương nào đó cần phải trưng cầu dân ý ở khu vực đó. Có thể nói, đây là lần thay đổi lớn nhất về cơ cấu tổ chức của Thượng nghị viện Nhật Bản kể từ khi kết thúc Chiến tranh Thế giới lần thứ II đến nay. Sự thay đổi này là một sự thể hiện cụ thể chủ trương giảm bớt sự cồng kềnh đồng thời tăng cường sức mạnh của bộ máy Nhà nước Nhật Bản.

2.2. Những biến động trong nhánh Hành pháp Nhật Bản

Mặc dù Hiến pháp Nhật Bản quy định quyền lực Nhà nước được chia làm ba nhánh đối trọng lẫn nhau trong đó nhánh Lập pháp là nhánh có sức mạnh vượt trội song trong thực tế thì nhánh Hành pháp bao giờ cũng là cơ quan nhà nước có thực quyền. Trong năm qua, năm 2001, ngay từ đầu năm ngày 6/1 Thủ tướng Mori lúc đó đ• tiến hành một cuộc cải cách lớn nhất trong lịch sử nhánh quyền lực này ở Nhật Bản kể từ Chiến tranh Thế giới lần thứ II đến nay. Cuộc cải cách đ• giảm số bộ và tương đương xuống bằng 2/3 số bộ cũ. Cụ thể là sau cải cách Nhật Bản hiện có 13 Bộ và cơ  quan tương đương sau:

– Bộ Tổng hợp (sát nhập Cục Tổng hợp, Bộ Bưu chính, Bộ Tự trị)        – Bộ L•nh thổ và Giao thông (sát nhập Bộ Giao thông, Bộ Xây dựng, CụcL•nh thổ)

– Bộ Tư pháp   -Bộ Y tế-Lao động( sát nhập Bộ Y tế và Bộ Lao động

-Bộ Ngoại giao -Bộ Tài chính

– Bộ Môi trường           – Bộ Nông Lâm Thuỷ sản

-Uỷ ban An ninh           -Cục Phòng vệ

-Bộ Khoa học và Văn hoá        – Bộ Kinh tế và Công nghiệp

– Văn phòng Nội các   

Giảm số thành viên của Nội các từ 23 có lúc lên tới 25 xuống còn 17 người. Việc làm đó đ• góp phần quan trọng làm giảm sự cồng kềnh của bộ máy nhà nước trong nhánh quyền lực này đồng thời tăng cường vai trò của các nhà chính trị trong quá trình hoạch định chính sách trong quan hệ với giới quan chức hành chính.

Kế thừa và duy trì cơ cấu tổ chức của nhánh hành pháp do Thủ tướng Mori đ• cải cách, Nội các của Thủ tướng mới Koizumi đ• có những bước đi táo bạo tiếp theo có tính cách mạng. Đó là việc bổ nhiệm theo một quan điểm mới các thành viên mới của Nội các. Quan điểm này đ• hạn chế tới mức tối đa việc bổ nhiệm phụ thuộc vào phe phái trong Đảng DCTD. Thực tế, Nội các cơ quan giữ quyền Hành pháp do Thủ tướng Koizumi bổ nhiệm vào ngày 26 tháng 4 gồm có 5 phụ nữ, 2 người ở độ tuổi 40 và 3 bộ trưởng từ khu vực tư nhân. 7 bộ trưởng vẫn giữ được chức vụ của mình trong đó có 2 người thuộc 2 đảng còn lại trong liên minh 3 đảng cầm quyền. Nhưng phái lớn nhất trong Đảng DCTD chỉ giữ 2 trong số 17 chức bộ trưởng. Ngoài ra ông Koizumi còn bổ nhiệm  chức vụ Tổng thư ký của Đảng DCTD, một chức vụ đầy quyền lực trong đảng, cho ông Taku Yamasaki. Đề cập đến việc bổ nhiệm này, ông nói: “Trong chiến dịch vận động bầu cử vào chức Chủ tịch Đảng DCTD tôi đ• cam kết thành lập một Nội các không phân biệt phe phái và tôi đ• đạt được điều này.”

Như vậy, năm 2001, ở Nhật Bản đ• có những sự thay đổi có tính cách mạng ở cả hai nhánh quyền lực chủ yếu của Nhà nước, nhánh Lập pháp và nhánh Hành pháp. Đó là những sự kiện dường như  ngẫu nhiên lại trùng với năm quan trọng, năm đầu của thiên niên kỷ thứ ba.

3. Nét mới trong quá trình tuyển chọn chủ tịch đảng DCTD

Thông tin trên báo chí đ• cho chúng ta biết sau khi Thủ tướng Mori Nhật Bản tuyên bố từ chức vào ngày 6/4 thì Đảng DCTD đ• tổ chức bầu lại cương vị trong đảng mà Mori buộc phải rời bỏ, đó là chức Chủ tịch Đảng. Thực ra việc tìm kiếm một gương mặt mới thay thế cho ông Mori Chủ tịch Đảng đ• có từ đầu năm. Các thông tin bàn luận về khả năng ai thay thế cho Mori liên tục thay đổi. Tuy nhiên, nay ta nhìn lại thì rõ ràng là giới phân tích chính trị đ• nắm đúng tình hình và dự đoán của họ càng gần ngày quyết định càng chính xác. Đa phần dự đoán của giới phân tích đều cho rằng Koizumi sẽ thắng.

Cho đến ngày 12/4 đ• có 4 ứng cử viên đưa ra cương lĩnh tranh cử của mình. Đó là Taro Aso, Shizuka Kamei, Junichiro Koizumi và Ryutaro Hashimoto.

Nhìn nhận cương lĩnh của 4 ứng cử viên người ta không thấy có những khoảng cách lớn. Điều này có lẽ là do cả 4 người đều thuộc cùng một đảng chỉ khác nhau ở chỗ họ nhận được sự ủng hộ của những phái khác nhau.

Sau khi xem xét nhiều khía cạnh các nhà phân tích chính trị đ• sớm dự đoán được rằng: những lá phiếu quyết định, lần đầu tiên, nằm trong tay các đảng bộ địa phương của Đảng DCTD. Điều đó khiến cho các đảng viên tại địa phương có một tiếng nói đặc biệt quan trọng đối với một kết quả mà theo truyền thống được quyết định trong các phòng họp kín ở Tokyo. Trong khi đó ông Koizumi lại được sự ủng hộ nhiệt tình của các đảng bộ địa phương nên  quy chế bầu cử mới lần này có lợi cho ông: Quy chế mới quy định số phiếu cho mỗi đơn vị trực thuộc từ 1 tăng lên 3, tổng cộng 47 đảng bộ tỉnh và thành phố trực thuộc tăng từ 47 phiếu lên 141 phiếu. Trong số nghị sĩ của Đảng DCTD trong Quốc hội, số phiếu ủng hộ Koizumi thấp hơn Hashimoto, nhưng các địa phương đ• dồn phiếu cho Koizumi, do hình ảnh cải cách của ông có sức lôi cuốn nhất định. Và kết quả như đ• được định trước. Ngày 24/4/2001, do nhận được sự ủng hộ của đa số đảng viên nên Junichiro Koizumi đ• giành được chiến thắng trong cuộc chạy đua vào chức Chủ tịch Đảng DCTD để trở thành thủ tướng thứ 11 của Nhật Bản trong vòng 13 năm qua với 298 phiếu thuận trong tổng số 484 phiếu hợp lệ. Đối thủ nặng ký nhất của ông là cựu thủ tướng Ruytaro Hashimoto, chỉ giành được 155 phiếu, mặc dầu ông là người đứng đầu phái lớn nhất trong Đảng DCTD.

4. Năm 2001 Thủ tướng Junichiro Koizumi “niềm hy vọng” của nhân dân Nhật Bản

4.1 Hai thủ tướng – hai sự khác biệt

Năm 2001, năm khởi đầu của thiên niên kỷ thứ ba, nhân dân Nhật Bản đ• tiễn biệt Thủ tướng cũ để đón tiếp vị Thủ tướng mới của mình, hai nhà vô địch trên hai phương diện khác nhau. Một người bị đánh giá là kém nhất, thể hiện cho nỗi lo âu, còn người kia đem lại niềm hy vọng cho họ.

Hai vị thủ tướng trong năm 2001 của Nhật Bản có rất nhiều điểm đối lập. Có thể kể ra những nét đặc sắc sau:

Yoshiro Mori    Junichiro Kuizumi

-To béo, chậm chạp     – Dỏng cao, nhanh nhẹn

– ít chú ý đến hình thức  – Chú ý đến hình thức

– Tiếng Anh kém           – Giỏi tiếng Anh

-Đạt kỷ lục về uy tín thấp( gần 6%)       – Đạt kỷ luật về uy tín cao nhất (gần 90%)

– Hay mắc lỗi kỹ thuật trên chính trường            – Rất thành công khi thực hiện các kỹ thuật hoạt động chính trị

Tuy nhiên hai vị thủ tướng này có một số điểm chung. Đó là cùng là những người đi theo đường lối cải cách và cũng là thành viên của một phái trong Đảng DCTD. Cả hai vị thủ tướng này đều làm được 2 việc cụ thể tương tự nhau liên quan đến câu chuyện cải tổ Nội các. Nếu nói đó là sự thành công thì yoshiro Mori lại là người có công đầu, người đặt nền móng cho cải cách đó. Vì vậy tính đến hết năm 2001 thì người ta dễ nhận thấy sự yêu mến của nhân dân đối với Koizumi, sự hi vọng ở vị thủ tướng này cũng như việc ghét bỏ Mori, sự lo âu dành cho hai vị thủ tướng trong công việc của họ lại chủ yếu căn cứ vào những hoạt động chỉ có ý nghĩa kỹ thuật nếu không nói là tiểu tiết. Nhưng ở đây có điểm cần nói là Mori không còn ở cương vị thủ tướng nên đ• có những đánh giá cố định. Theo báo Yomiuri công bố kết quả điều tra dư luận về hiệu quả công việc trong gần một năm cầm quyền của Thủ tướng Mori thì chỉ 1,5% số người được hỏi cho là đạt hiệu quả cao, 20,3% nói đ• làm được ít nhiều, 43,6%  đánh giá là không làm được nhiều lắm, và 30,6% nhận xét rằng không đạt được gì . Nhưng đối với Thủ tướng Koizumi, con người của hiện tại và tương lai nên mọi sự còn đang ở phía trước. Nhân dân Nhật Bản đang hy vọng vị thủ tướng hiện nay của họ sẽ làm được nhiều điều cho họ, ông sẽ chèo lái “con thuyền” Nhật Bản vượt qua sóng gió tiến lên phía trước. Hy vọng nhiều song họ cũng không thể tránh khỏi lo âu. Người ta lo rằng vị thủ tướng của họ có thể thực hiện được những lời hứa tốt đẹp của mình không; ông có đủ can đảm, nghị lực và sức mạnh để vượt qua lực cản trong Đảng DCTD, trong chính giới, rồi cả những sự chống đối của các thế lực bị thua thiệt. Và nếu giả như ông thực hiện được những điều đó thì đó có đúng là những điều thực sự cần thiết và tốt đẹp cho đất nước và nhân dân của ông không.

Để có thể cùng với nhân dân Nhật Bản giải được những điều đó, sau đây chúng ta sẽ xem xét con người và công việc của Thủ tướng Junichiro Koizumi trong 8 tháng cuối cùng của năm đầu thiên niên kỷ thứ ba năm 2001 vừa qua.

4.2  Về cá nhân Thủ tướng Koizumi

Ông sinh năm 1942 trong một gia đình có tiếng tăm. Ông nội của ông là Bộ trưởng Bưu điện trong những năm 30 của thế kỷ 20, bố ông từng giữ chức Cục trưởng Cục Phòng vệ. Ông tốt nghiệp trường đại học Keio rồi sang Luân Đôn du học, là chính khách nói tiếng Anh lưu loát hiếm có trên chính trường Nhật Bản. Ông trúng cử và trở thành Hạ nghị sĩ lần đầu tiên vào năm 30 tuổi. Năm 1979 ông được bổ nhiệm vào cương vị Thứ trưởng Bộ Tài chính, năm 1980 làm Trưởng ban Tài chính của Đảng DCTD. Ông đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Y tế trong 3 lần vào các năm 1988, 1989 và 1996. Trong Nội các Miyazawa năm 1992, ông là Bộ trưởng Bộ Bưu điện. Ông ra ứng cử chức Chủ tịch Đảng DCTD với tư cách là đảng viên độc lập không phe phái song trước đó là người thuộc phái Mori. Ông là người có kinh nghiệm hoạt động chính trị phong phú, có hình ảnh liêm khiết, dám nói, dám làm, là người đại diện cho lớp chính khách trẻ của Nhật Bản.

4.3. Lời hứa và việc làm của Thủ tướng Koizumi trong 8 tháng cầm quyền

Có thể nói hình như nhân dân Nhật Bản đ• có được vị thủ tướng tốt nhất trong cơ chế hiện nay. Một vị thủ tướng phải chịu rất nhiều sức ép song đ• mạnh dạn dám động đến mọi điều, có thể gây ra những phản ứng bất lợi đối với ông.

Thứ nhất là các cải cách tiến công trực tiếp vào quyền lợi ích kỷ của một bộ phận không nhỏ đảng viên có quyền lực trong Đảng DCTD. Hành động đó cũng là hành động vì lợi ích toàn cục và lâu dài của bản thân Đảng DCTD, đảng có rất nhiều thói hư tật xấu do cầm quyền lâu ngày. Hành động đó cũng là vì nhân dân Nhật Bản. Các cải cách thuộc lĩnh vực này đ• khiến ông có được sự ủng hộ mạnh mẽ của những đảng viên Đảng DCTD ở địa phương, những đảng viên trẻ, những đảng viên thường cũng như của nhân dân Nhật Bản. Nếu các thế lực chống đối trong đảng nhận thức được lợi ích toàn cục, ủng hộ Thủ tướng Koizumi thì nhân dân Nhật Bản có quyền hy vọng về tương lai của mình. Chúng ta có thể thấy thực tiễn cải cách qua một số công việc cụ thể sau:

– Ngày 21/5 Chính phủ của ông Koizumi tuyên bố sẽ đưa ra sáng kiến về việc sử dụng rộng r•i hơn khoản thuế liên quan đến ô tô. Đây là cải cách mới nghe qua nhiều người nghĩ là chỉ liên quan đến vấn đề kinh tế, song thực ra lại rất chính trị. ở Nhật Bản thu nhập hàng năm liên quan đến ô tô, vào khoảng 5,8 ngàn tỷ yên (47,3 tỷ USD) từ nguồn thuế xăng dầu và các loại thuế khác. Trong hàng thập kỷ khoản thuế này được coi như là túi tiền riêng của phái Tanaka, phái hiện được đặt dưới sự l•nh đạo của cựu Thủ tướng Hashimoto, tướng bại trận “dưới đao” của Thủ tướng Koizumi. Các khoản thuế này được đưa vào ngân quỹ tách biệt khỏi tài khoản chung và chỉ được sử dụng để xây dựng đường. Phái Tanaka sử dụng khoản thuế này để đầu tư xây dựng và tu bổ các con đường ở những vùng thôn quê ủng hộ họ; cung cấp các hợp đồng xây dựng đó cho các công ty xây dựng đ• và sẽ bảo trợ về mặt tài chính cho họ trong các cuộc vận động tranh cử. Quyết định này làm cho Koizumi mất đi sự ủng hộ của một số đáng kể các nghị sĩ thuộc phái Tanaka song có thể khiến cá nhân ông và đảng của ông nhận được sự ủng hộ của cư dân ở thành thị không thuộc khu vực được đầu tư và thậm chí từ chính những khu vực nông thôn khi được hưởng lợi từ các đầu tư đó. Nó cũng là một hành động dũng cảm vì nhân dân, vì đất nước nhất là trong bối cảnh Chính phủ nỗ lực làm giảm bớt gánh nặng nợ  khổng lồ của Nhà nước.

– Xây dựng Nội các không theo tư tưởng bè phái. Cố gắng chọn những người có tài vào tham gia l•nh đạo đất nước. Như ở phần trên đ• đề cập đến phái Hashimoto lớn nhất chỉ có 2 ghế, số người trẻ tham gia Nội các tăng, có Bộ trưởng chỉ ở tuổi 40. Và như ông đ• hứa, số thành viên Nội các là nữ cũng được tăng lên đáng kể (5 người).

– Chuẩn bị đề án, phương thức giới thiệu các thành viên mới vào các chức vụ nghị sĩ và quan chức địa phương theo hướng dân chủ, rộng r•i để lựa chọn được người tài. Đặc biệt ông đưa ra đề án xây dựng phương án bầu thủ tướng trực tiếp. Điều đó có nghĩa rằng nếu phương án được chấp thuận thì Thủ tướng sẽ là Thủ tướng của nhân dân Nhật Bản, của chính họ bầu ra chứ không phải là do đảng cầm quyền và của đảng cầm quyền.

Thứ hai là tiến hành các hành động cụ thể nhằm xúc tiến một cách tích cực việc nghiên cứu để sửa đổi Hiến pháp trong đó có cả việc thông qua các đạo luật liên quan đến hợp tác an ninh Nhật -Mỹ và tăng cường tiềm năng quân sự của Nhật Bản như phần trên chúng ta đ• đề cập đến.

Thứ ba là thực hiện chuyến viếng thăm chính thức đền yasukuri vào ngày 13/8 thay cho ngày 15/8. Chúng ta biết rằng trong nỗ lực giành sự ủng hộ của các lá phiếu bảo thủ trong Đảng DCTD, Koizumi đ• hứa đến thăm ngôi đền này. Ngôi đền này được xây dựng vào năm 1896, là ngôi đền chính của Thần đạo có quan hệ chặt chẽ với sự nổi lên của chủ nghĩa quân phiệt Nhật. Ngôi đền này là nơi thờ 2,47 triệu nạn nhân chiến tranh cùng 14 tội phạm Chiến tranh Thế giới thứ II trong đó có Thủ tướng Hideki Tojo được đưa vào thờ chung trong đền vào năm 1978. Hành động này của ông đ• gặp phải sự phản ứng của cả những người ủng hộ ông cũng như người phản đối ông đến thăm đền. Hành động đó cũng gây nên làn sóng phản đối ở ngoài nước đặc biệt là ở Trung Quốc và Hàn Quốc. 20 thanh niên Hàn Quốc ở độ tuổi 20 đ• lên án hành động này bằng cách chặt đứt ngón tay út của họ. Hành động này của ông đ• trở thành một ví dụ đặc sắc cho việc thể hiện quyết tâm thực hiện lời hứa qua đó tăng niềm tin đối với ông của nhân dân Nhật Bản.

Thứ tư là công khai hóa tài sản của các thành viên Nội các vào ngày 29/5. Theo thông tin thì tài sản các cá nhân của Nội các Koizumi trung bình là 145 triệu yên (khoảng 1,2 triệu USD). Trong đó, đứng đầu là Ngoại trưởng Tanaka với 749 triệu yên. Đáng chú ý là trong 6 người có tài sản sở hữu cá nhân lớn nhất thì có đủ mặt của toàn bộ 5 nữ thành viên Nội các. Ông Koizumi đứng ở vị trí 13, với 50 triệu yên. Nếu so sánh thì tài sản cá nhân của Nội các Y. Mori tháng 4/2000 trung bình là 84 triệu yên, của K.Obuchi tháng 7/1998 trung bình là 120 triệu yên. Những thống kê đó được tính cả thu nhập của những người thân trong gia đình, trị giá bất động sản, cổ phiếu và tiền gửi tiết kiệm.

Tóm lại, các hành động của Koizumi đ• chứng tỏ quyết tâm thực hiện lời hứa của mình. Cho dù những việc làm đó  của ông chưa phải là những việc làm có ý nghĩa trọng đại khiến phía chỉ trích vẫn nói rằng ông chưa làm gì. Những việc làm đó cũng đ• nói lên một điều là Koizumi quyết tâm cải cách song lại chịu quá nhiều sức ép. Quan sát tình hình cụ thể cho phép chúng ta nhận định rằng việc ông Koizumi có tiếp tục thực hiện được dự định tốt đẹp của mình để lái con thuyền Nhật Bản tiến lên hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó phải kể cả đến vận may của nhân dân Nhật Bản.

Xem xét tình hình chính trị của Nhật Bản năm 2001 có thể đưa đến cho chúng ta một số căn cứ để dự đoán về một tương lai gần của đất nước này như sau:

1. Hiến pháp sẽ được thay đổi, Nhật Bản sẽ trở thành một quốc gia bình thường có quân đội riêng và rất có thể có thủ tướng được bầu trực tiếp.

2. Tình hình liên minh đảng phái hiện nay cho thấy việc xuất hiện hệ thống 2 đảng ở Nhật Bản sẽ diễn ra trong một tương lai gần và các nhà phân tích chính trị chưa ngờ tới.

3. Vai trò của các địa phương sẽ ngày càng được đẩy lên cao hơn nhất là Tokyo, thành phố thủ đô với 10% cư dân Nhật Bản đang sinh sống.