TRUNG TÂM GIAO LƯU VĂN HÓA NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM

Chúng ta sẽ không thể hiểu rõ được thực trạng của nền kinh tế Nhật Bản năm 2002 nếu chỉ xét riêng nó trong bối cảnh trong nước và quốc tế năm 2002, mà không đặt nó trong bối cảnh chung của sự chuyển biến căn bản của nền kinh tế Nhật Bản suốt những năm 1990 và những năm tới đây.

1. Những nhân tố ngắn hạn.

Tổng cầu trong nước, một trong những động lực quan trọng lôi kéo nền kinh tế đi lên, vẫn trong tình trạng yếu ớt suốt nhiều năm. Chẳng hạn, nếu trong thời kỳ 1984-93, tốc độ tăng tổng cầu nội địa thực tế là 3,8% hàng năm, thì trong những năm 1994-2003 trung bình chỉ tăng có 1,0%, trong đó năm 2001 tăng 0,4% và năm 2002 giảm 1,3%. Trong tổng cầu nội địa, chi tiêu tiêu dùng tư nhân, mặc dù vẫn tăng 1,0% song với tốc độ tăng như vậy là thấp hơn so với 1,4% của năm 2001 và có thể nói là không đủ mạnh để kích nền kinh tế vốn đã bị trì trệ kéo dài đi lên. Chi tiêu tiêu dùng cá nhân tăng thấp như vậy một phần là do người dân Nhật vẫn có tâm lý hạn chế chi tiêu do họ vẫn còn lo ngại trước triển vọng không lấy gì làm sáng sủa của nền kinh tế cũng như của công ăn việc làm, phần nữa là do thu nhập của người dân không tăng. Chẳng hạn, trong năm 2002, thu nhập tính theo giờ của người công nhân Nhật giảm 0,1% so với mức tăng 0,9% của năm 2001, và gim 0,2% trong năm 2000. Một cấu thành quan trọng khác của tổng cầu trong nước là tích luỹ và đầu tư cho sản xuất, chỉ số tổng hình thành vốn cố định năm 2002 thật tồi tệ, giảm tới 5,2%, giảm mạnh hơn cả năm 2001 (-2,3%) cũng như so với mức trung bình của thời kỳ 1994-2003 (- 0,1%). Theo Bộ Tài chính, mức chi của các công ty Nhật Bản cho máy móc thiết bị trong quý 3 đã giảm 13,9% so với cùng kỳ năm trước sau khi đã giảm 15,5% trong quý 2. Việc đầu tư thấp đã dẫn đến số đơn đặt hàng mua máy móc của khu vực tư nhân – một dấu hiệu về chiều hướng đầu tư – đã giảm 4,1% trong tháng 10 sau khi tăng mạnh 12,9% trong tháng 9. Nguyên nhân dẫn đến sự gim sút này là do số đơn đặt hàng mua máy của khu vực viễn thông giảm mạnh tới 28,5% so với tháng 9. Nhận định về hiện tượng này, ông S. Kuwahara, một quan chức của Văn phòng Nội các, cho rằng: “Do tình trạng không ổn định về số đơn đặt hàng mua máy, nên có thể nói đầu tư kinh doanh của chúng ta vẫn chưa đi vào giai đoạn ổn định”. Việc chỉ số đầu tư tư nhân giảm mạnh chứng tỏ giới kinh doanh chưa tin tưởng vào các chính sách khắc phục khủng hoảng và cải tổ cơ cấu kinh tế của Chính phủ, vào triển vọng phục hồi của nền kinh tế. Có thể thấy được điều này qua những biến động của chỉ số lòng tin kinh doanh và chỉ số chứng khoán. Về chỉ số lòng tin kinh doanh, mặc dù đã được cải thiện chút ít qua các quý, song vẫn ở mức âm 5,9% trong quý 3, so với âm 8,7% của quý 2. Điều đó có nghĩa là số người bi quan về tương lai vẫn cao hơn nhiều so với số người lạc quan. Còn về chỉ số chứng khoán, ngay từ tháng 9, chỉ số Nikkei trên thị trường chứng khoán Tokyo liên tục nằm dưới mức 9.000 điểm, thấp nhất trong vòng 19 năm. Chỉ số chứng khoán thấp còn gây tác động tiêu cực làm suy giảm giá trị cổ phần của các ngân hàng cũng như các công ty, hạn chế khả năng sinh lời và tăng thêm nợ xấu của chúng. Mặc dù với mục đích giúp các ngân hàng thương mại có thể nhận được nhiều tiền hơn để cho vay cũng như để nâng giá tiêu dùng lên mức tăng 1,2%/năm, đầu tháng 12, BOJ đã quyết định đặt ra mục tiêu nâng lượng tiền mặt trong tài khoản vãng lai của mình từ 15.000 tỉ Yên lên 20.000 tỉ Yên, song hầu hết các nhà phân tích đều không tin là động thái này sẽ giúp được nền kinh tế đang phải vật lộn với nhiều khó khăn. Bởi vì, như ông Kiyotaka Ishikawa, nhà giao dịch tiền tệ của Ngân hàng Mizuho, đã nhận định: “Hiện nay nhu cầu vay tiền đã ở mức quá thấp khiến cho hành động này của BOJ chẳng gây được tác động nào”. Về chi tiêu công cộng, do chính sách thắt lưng buộc bụng, hạn chế chi tiêu của Thủ tướng J. Koizumi để kiềm chế các khoản nợ quá lớn của Chính phủ đã lên tới 140% GDP, cao nhất trong số các nước công nghiệp phát triển, so với 62% cách đây 10 năm, và thiếu hụt ngân sách hàng năm lên tới 6-8% GDP, nên tiêu dùng công cộng cũng chỉ tăng có 2,0%, thấp hơn mức 2,9% năm 2001 và bằng chưa đầy một nửa mức tăng 4,4-4,5% của các năm 1999 và 2000. Với mức độ như vậy, nên chi tiêu công cộng không bù đắp được nhiều cho sự thiếu hụt của nhu cầu tư nhân và kết quả là đã không phát huy được vai trò kích cầu để phát triển kinh tế như trước.

Về nhu cầu đối ngoại, đặc biệt là xuất khẩu, vốn là một trong những nguyên nhân lâu nay vẫn góp phần đáng kể vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, trong năm 2002 vẫn gây được những tác động tích cực đối với nền kinh tế, nhờ tăng 7,1% so với mức giảm 7,0% của năm 2001. Chính vì thế mà các chuyên gia của Văn phòng Nội các Nhật Bản đã dự kiến là, xuất khẩu thực tế đã góp phần nâng GDP của Nhật Bản trong năm tài chính 2002 thêm 0,5%, cao hơn so với mức dự đoán trước đó là 0,2%. Tuy vậy, những tác động này không đều và không bền vững, nó có tác dụng mạnh nhất vào nửa đầu năm 2002, song đáng tiếc là vai trò tích cực lại giảm dần trong những tháng cuối năm. Chẳng hạn, chỉ số hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung trong tháng 10 đã bắt đầu có biểu hiện cho thấy triển vọng mờ mịt do nhu cầu giảm ở cả trong lẫn ngoài nước. Ngay cả Văn phòng Nội các cũng như BOJ đều thừa nhận rằng, “xuất khẩu đã mang lại sức bật mới đây nhất cho nền kinh tế Nhật Bản sau thời kỳ suy thoái trước đó trong năm nay, nhưng vào cuối năm nhu cầu ở nước ngoài đã chững lại do những bất chắc về kinh tế toàn cầu, và chiều hướng tương lai sẽ phụ thuộc vào nước Mỹ, hiện đang phát ra những tín hiệu hết sức lẫn lộn và có vẻ không mấy khả quan lắm”. Do đó, không ít người cho rằng, trong năm tài chính 2003, GDP có lẽ sẽ giảm 0,1% do xuất khẩu. Vì thế, ngay cả các công ty lớn như Sony và NEC, mặc dù dự đoán lợi nhuận của mình sẽ phục hồi trong nửa đầu năm tài chính tới nhờ sự hỗ trợ của nhu cầu bên ngoài và những nỗ lực cơ cấu lại nền kinh tế, song vẫn không dám chắc lắm về triển vọng của họ do những bất ổn trên thế giới hiện nay.

2. Nợ khó đòi vẫn lớn và cản trở sự phục hồi của nền kinh tế.

Do nền tài chính Nhật Bản dựa chủ yếu vào các ngân hàng vốn được điều tiết rất chặt chẽ của Chính phủ và do chính sách cho vay ồ ạt thiếu cẩn trọng từ nhiều năm trước, khiến cho các khoản vay từ các ngân hàng bị sử dụng rất kém hiệu quả, nên sau khi nền kinh tế bong bóng bị đổ vỡ vào đầu những năm 1990, được thể hiện bằng tình trạng rơi tự do của giá bất động sản và chứng khoán, khiến rất nhiều công ty bị phá sản không thể trả được cả vốn lẫn lãi, nên các ngân hàng Nhật Bản đã bị đẩy vào tình trạng không thể thu hồi được nợ. Hậu quả là tình trạng nợ xấu, nợ khó đòi lên tới hàng trăm hàng ngàn tỉ USD. Mặc dù trong 10 năm qua, trước sự thúc ép cũng như khuyến khích của Chính phủ, và sự nỗ lực của bản thân, các ngân hàng Nhật Bản cũng đã giải quyết được 85.100 tỉ Yên các khoản nợ này. Tuy vậy cho đến nay, tình trạng nợ khó đòi của hệ thống ngân hàng Nhật Bản vẫn tiếp tục tăng và trở thành vấn đề bức xúc không chỉ của riêng các công ty và các ngân hàng mà của toàn bộ nền kinh tế, thành vật cản không dễ vượt qua của quá trình khắc phục suy thoái và phục hồi kinh tế. Mặc dù, những ước tính về các khoản nợ xấu và cho vay khó đòi của các ngân hàng Nhật Bản là hết sức khác nhau, song theo những đánh giá chính thức, tính đến giữa tháng 10 năm 2002, tổng các khoản nợ khó đòi của các ngân hàng Nhật Bản là 43.200 tỉ Yên (chừng 376 tỉ USD), tương đương với gần 10% GDP của Nhật Bản, song nhiều ý kiến (trong đó có cả IMF) đều cho rằng các con số thực tế phải cao hơn thế tới 10 lần. Các điều tra cũng cho thấy, hiện hơn 40% số tiền cho vay chưa thanh toán của các ngân hàng là khó đòi. Tình trạng nợ xấu nghiêm trọng như vậy, một mặt, đã khiến cho các công ty mắc nợ không thể thoát ra khỏi tình trạng nợ nần, luôn trong tình trạng lo làm để trả nợ, không thể có điều kiện để đổi mới thiết bị và phát triển sản xuất; mặt khác, về phía các ngân hàng, do không thu hồi được nợ, nên cũng không có vốn để kinh doanh và cũng do rất sợ bị mất vốn thêm nữa, nên càng không muốn cho các doanh nghiệp vay tiếp. Hậu quả là vốn bị đóng băng, khó chu chuyển từ nơi có vốn đến nơi cần vốn, hạn chế quá trình đầu tư sản xuất, gây ra tình trạng trì trệ cho nền kinh tế.

Ngoài việc phải gánh chịu sự chậm lại của nền kinh tế và khả năng sinh lời thấp của các công ty, các ngân hàng còn chịu tác động tiêu cực của tình trạng giá bất động sản và chứng khoán vẫn tiếp tục hạ thấp tới những mức thấp kỷ lục bất chấp các biện pháp khắc phục của Chính phủ. Giá các mặt hàng này giảm xuống đã đẩy các công ty vào tình trạng khó trả được nợ các ngân hàng và khiến cho tài sản của các doanh nghiệp do các ngân hàng nắm giữ như là vật thế chấp bị giảm giá, cũng như khiến cho các cổ phiếu của các ngân hàng càng mất giá, làm giảm khả năng sinh lời của các ngân hàng. Tình trạng này càng khiến cho việc cải tổ nhằm nâng cao hiệu quả hệ thống ngân hàng và giải quyết tình trạng nợ khó đòi của Nhật Bản ở lên khó khăn. Mizuho Holdings Inc., ngân hàng lớn nhất thế giới xét về mặt tài sản, và Mitsubishi Tokyo Financial Group (MTFG) đã cho biết họ sẽ phải chịu lỗ ròng trong 12 tháng tính đến tháng 3/2003, trái ngược với dự đoán về lợi nhuận trước đây. Còn hai ngân hàng khổng lồ khác là Sumitomo Mitsui Banking Corp và UFJ Holdings Inc., mặc dù cho đến cuối năm 2002 vẫn hy vọng duy trì được lợi nhuận cả năm tài chính 2003 (tính đến tháng 3/2003), song các nhà phân tích lại dự đoán rằng tất cả các ngân hàng này sẽ mắc nợ sau khi có các đánh giá thuế chặt chẽ hơn của Chính phủ.

Trước tình trạng nợ nần nan giải như vậy của các ngân hàng và công ty, Chính phủ đã đưa ra nhiều giải pháp hỗ trợ cũng như có nhiều thúc ép buộc các ngân hàng phi sớm giải quyết dứt điểm và tích cực cho vay đầu tư. Mới đây nhất, vào tháng 11, sau khi cử ông Heizo Takenaka, nguyên là một giáo sư kinh tế Đại học Keio danh tiếng và nổi tiếng là người có quan điểm cải cách cứng rắn, làm Bộ trưởng phụ trách Chính sách Kinh tế và Tài chính kiêm luôn chức đứng đầu Cơ quan dịch vụ tài chính (FSA), để thúc đẩy cải cách nhất là để sớm giải quyết dứt điểm các khoản nợ khó đòi của các ngân hàng, Chính phủ đã công bố một Chương trình cải cách ngân hàng, theo hướng sẽ rót thêm công quỹ cho những ngân hàng nào tích cực xoá các khoản nợ khó đòi và dự kiến đến tháng 3/2005, sẽ giảm số nợ khó đòi hiện nay xuống còn 1/2.

3. Sự biến dạng của chu kỳ kinh doanh.

Suốt trong thời kỳ kinh tế bong bóng những năm 1980, do được vay vốn một cách quá dễ dãi và quá rẻ (tức lãi suất thấp), và do ảo tưởng là nền kinh tế Nhật Bản sẽ tiếp tục phình to ra mãi mãi, nên các doanh nghiệp Nhật Bản không những đã hăng hái tự bỏ vốn mà còn tích cực đi vay để đầu tư, không những ở trong nước mà cả ở nước ngoài. Giai đoạn 1987-90, đầu tư cho thiết bị máy móc của Nhật Bản đạt mức rất cao, lên đến 13-14% hàng năm, trong khi sản xuất chỉ tăng trung bình có 4-5%. Điều này tất yếu dẫn đến chỗ dư thừa tư bản cố định, tỉ lệ công suất sử dụng thấp. Tình trạng dư thừa này càng trở lên nghiêm trọng trong điều kiện nền kinh tế bị giảm phát kéo dài, nhu cầu tiêu thụ thấp xa so với khả năng cung cấp của nền kinh tế. Điều đó đã khiến cho quá trình thu hồi vốn và đổi mới thiết bị của các công ty bị chậm lại và hậu quả là nền kinh tế rất khó phát triển. Phần lớn các nước tư bản Âu, Mỹ khác cũng phải trải qua khủng hoảng chu kỳ đầu những năm 1990, song các nước này đã nhanh chóng phục hồi tăng trưởng kinh tế nhờ các biện pháp nới lỏng tài chính, gim thuế, tăng chi tiêu và giảm lãi suất. Nhật Bản cũng đã tiến hành nhiều biện pháp kích thích kinh tế, nhưng hiệu quả rất hạn chế, tỉ lệ công suất sử dụng vẫn rất thấp, nền kinh tế vẫn tiếp tục trì trệ kéo dài. Nếu trong những đợt khủng hoảng chu kỳ trước kia, kinh tế Nhật Bản chỉ giảm sút trong vòng từ một đến hai hoặc ba tháng, sau đó nhanh chóng phục hồi theo hình chữ V và các giai đoạn tăng trưởng thường khá dài, song ngược lại, lần này nền kinh tế Nhật Bản lại tiến triển theo hình chữ U, tức nằm trong khủng hoảng quá lâu và phục hồi lại hết sức chậm chạp và khó khăn. Chính vì thế mà trong 11 năm qua (1992-2002), tốc độ tăng trưởng thực tế trung bình hàng năm của GDP chỉ có 0,7%, thấp xa so với các thập kỷ trước và so với các nước công nghiệp phát triển khác. Do vậy, ngoài những nhân tố mang tính chu kỳ, rõ ràng sự biến dạng của chu kỳ kinh tế lần này còn ẩn những vấn đề về cấu trúc của nền kinh tế Nhật Bản, mà muốn giải quyết được chúng đòi hỏi phải có thời gian và cả những giải pháp cải tổ rất căn bản và đau đớn.

4. Sự thất bại của những chương trình cải cách và cải tổ cơ cấu kinh tế.

Một thất vọng lớn nhất nữa chính là ở hy vọng, mà người ta đặt vào Thủ tướng J. Koizumi. Người ta đã hy vọng là, người đàn ông hào hoa và dám nói dám làm này, sau khi lên cầm quyền vào tháng 4 năm 2001, sẽ có thể giải quyết thành công các vấn đề kinh tế lớn đã đeo đẳng và làm khổ nước Nhật nhiều năm qua. Đáng tiếc là, những hy vọng này lại là phải thực tế và uy tín của cá nhân J. Koizumi và cũng như của Chính phủ của ông đã dần dần bị sa sút, và tương lai chính trị của ông cũng đã nhiều lần được đặt lên bàn cân. Khách quan mà nói, Chính phủ Koizumi cũng đạt được đôi chút tiến bộ trong một vài cải cách cơ cấu, như cải cách các công ty nhà nước và hệ thống tiết kiệm bưu điện, song kết quả chung lại hết sức hạn chế. Nhìn lại, ta thấy, giống như những đời thủ tướng trước, ông Koizumi vẫn tiếp tục đưa ra những lời hứa nhiều hơn là những cải cách thực sự trong thực tế. Người ta cho rằng, Nội các của ông vẫn chưa có được một hệ thống những chính sách và biện pháp rõ ràng, cụ thể, và kiên quyết để thực hiện một chương trình cải cách cơ cấu toàn diện. Trong thực tế, Chính phủ của ông vẫn bị chi phối bởi quan điểm “lấy ước mơ làm hiện thực” (wishful thinking). Họ vẫn tin rằng những khó khăn kinh tế của Nhật Bản chủ yếu là do những yếu tố chu kỳ, do vậy, “hết mưa là nắng hửng lên thôi”, nền kinh tế trước sau rồi cũng sẽ sớm đi vào phục hồi như vẫn thường xảy ra trong những năm sau chiến tranh, rằng tăng trưởng kinh tế sẽ giải quyết được hết mọi vấn đề, do vậy chẳng cần phải tốn sức để tiến hành những cải cách cơ cấu quan trọng và căn bản. Với lối suy nghĩ như vậy, nên họ cho rằng, quan điểm cải cách tốt nhất là “dần dần” và chính sách tốt nhất là “cố gắng chịu đựng và chờ đợi”. Trong thực tế, họ đã không dám hoặc không kiên quyết đóng cửa các ngân hàng yếu kém, hoặc buộc chúng phải loại bỏ các khon nợ khó đòi mà chỉ đưa ra những giải pháp nửa vời như giãn nợ, còn các công ty chỉ cần áp dụng những biện pháp tiết kiệm chi phí để trụ vững trong khủng hoảng hoặc cùng lắm là cải tổ cơ cấu tí ti, và kết quả là, chỉ có thể tạo ra sự thay đổi chút ít, không đáng kể so với nguyên trạng. Đồng thời, họ không tin là tình trạng khủng hoảng kinh tế hiện nay là do những nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ chính sự lỗi thời của mô hình kinh tế cũ, mà họ vẫn cho là do những tác động của sự sa sút tạm thời của nhu cầu trong nước và thế giới, nên thay vì phải kiên quyết có những cải cách và cải tổ kinh tế căn bản, trong năm 2002, Chính phủ của ông J. Koizumi, cũng như các đời thủ tướng khác trong hơn 10 năm qua, chủ yếu vẫn đi theo chính sách “kích cầu” như cũ nhằm kích thích tiêu dùng và sản xuất bằng các biện pháp như “nới lỏng chính sách tiền tệ”, trợ cấp cho người tiêu dùng, và “tăng chi tiêu chính phủ cho các nhu cầu công cộng”. Chẳng hạn, như lời hứa hạn chế phát hành trái phiếu chính phủ ở mức 30.000 tỉ yên của ông đã không được thực hiện. Hậu quả là gì? Hàng trăm tỉ đô la vẫn được bơm vào nền kinh tế, bị lãng phí cho các công trình công cộng thuộc cơ sở hạ tầng hoặc rơi vào túi của các ngành và các công ty kém hiệu quả, còn sản xuất vẫn bị giảm phát ngày càng nghiêm trọng, người tiêu dùng vẫn ngày càng thắt lưng buộc bụng chặt hơn, núi nợ chính phủ tiếp tục cao lên không ngừng, và nền kinh tế thì vẫn bị trì trệ triền miên và không sao ngóc đầu lên được. Tình trạng trên của Nhật Bản cũng đã được chính Thủ tướng J. Koizumi thừa nhận trong Diễn văn “Nhật Bản và ASEAN ở Đông Á – Một mối quan hệ đối tác chân thành và cởi mở” tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Singapore) ngày 14/1/2002: “Lý do nền kinh tế Nhật Bản trì trệ trong một khoảng thời gian dài như thế vào những năm 1990 là rõ ràng. Thành công trước đó của Nhật Bản đã làm cho chúng tôi tự mãn. Mặc dù đã có những thay đổi quan trọng đang diễn ra trong nền kinh tế toàn cầu, nhưng Nhật Bản lại không hưởng ứng kịp thời bằng việc tiến hành cải cách các cơ cấu kinh tế và chính trị của mình. Công nghệ thông tin và truyền thông đã tạo ra một thị trường toàn cầu thống nhất, duy nhất. Sự cạnh tranh đã trở lên khốc liệt hơn rất nhiều. Để thành công được trong những điều kiện như thế, mỗi quốc gia cần một thị trường tự do và có hiệu quả có thể được các nhà đầu tư cũng như người tiêu dùng toàn cầu tin cậy. Nước đó cần một thị trường tài chính mạnh mẽ và lành mạnh. Song đáng tiếc là chúng tôi lại chưa thấy hết được điều đó”.

Tại sao các đời thủ tướng Nhật Bản, và cả Thủ tướng J. Koizumi, được coi là người có tư tưởng cấp tiến nhất, lại không thể cải cách được nền kinh tế đang gặp rất nhiều vấn đề này? ít nhất có thể có hai vấn đề sau:

4.1. Vấp phải  sự chống đối quyết liệt của các nhóm lợi ích.

Như chúng ta đã thấy, tình trạng khủng hoảng kéo dài của nền kinh tế và cả xã hội Nhật Bản hiện nay chủ yếu bắt nguồn từ những nhân tố bên trong (như khủng hoảng mô hình phát triển) hơn là từ những sức ép bên ngoài. Do đó, việc cải cách và cải tổ cơ cấu kinh tế lần này nếu làm triệt để sẽ gây ra những khó khăn hết sức to lớn trước mắt cho cả xã hội Nhật Bản, sẽ đụng chạm đến mọi ngành, mọi tầng lớp và mọi giới trong xã hội, ai cũng phải trả giá, thậm chí rất đau đớn. Giới chính trị, mà tiêu biểu là Đảng Dân chủ – Tự do (LDP) đang cầm quyền, sẽ bị mất quyền điều hành đất nước hoặc ít ra là cũng bị giảm mất số ghế trong Quốc hội và phải chia xẻ quyền điều hành chính phủ, đất nước (và kèm theo đó là lợi ích về tiền bạc) với các đảng phái khác. Giới quan chức không còn được quyền tham gia hoạch định các chính sách kinh tế và điều tiết các khoản chi ngân sách và các hợp đồng kinh tế có lợi cho các ngành và các công ty cánh hẩu của mình. Giới kinh doanh lớn thì sẽ không còn được hưởng những được hợp đồng kinh doanh béo bở do các chính khách và các quan chức câu kết với mình mang lại, còn người lao động thì sẽ bị mất việc làm hoặc sẽ bị giảm thu nhập, Chính vì thế, nên không phải ai cũng đồng tình với những đề nghị cải cách và cải tổ của Chính phủ, và do vậy Nhật Bản đã không thể nào tạo ra được “sự nhất trí quốc gia” (national consensus), không thể nào huy động được mọi nguồn lực cho cải cách và đổi mới, như họ đã từng đạt được trong hai lần cải cách và mở cửa trước đây. Có thể nói rằng, ở Nhật, bây giờ có ba quan điểm và ba nhóm người khác nhau: Một số người thì tích cực ủng hộ cải cách dù biết phải trả giá, một số người thì thờ ơ không quan tâm, còn một số không nhỏ nữa thì chống phá quyết liệt, rất muốn duy trì nguyên trạng. Chính trong bối cảnh đó mà hầu hết các ứng cử viên thủ tướng khi tranh cử thì rất hăng hái ủng hộ và tỏ rõ quyết tâm cải cách đến cùng, nhưng khi cầm quyền thì lại thoái chí và chỉ đưa ra những cải cách nửa vời, còn về cơ bn vẫn đi theo phong cách điều hành nền kinh tế như cũ, để đảm bảo được sự bằng lòng và chấp nhận của tất cả các bên có liên quan nhằm duy trì được chiếc ghế của mình. Đúng như Lincoln, một nghiên cứu viên cao cấp của Viện Brookings, đã nhận định, có quá nhiều người Nhật đang được hưởng lợi từ hệ thống hiện hữu, do đó, “Không một ai trong số họ có lý do để tin rằng hệ thống này đã tha hoá đến mức không còn có thể hoạt động hiệu quả được nữa cần phải cải cách hoặc cải tổ để loại bỏ “những công việc ngồi mát ăn bát vàng của họ” (Newsweek, May, 13, 2002, tr. 16).

4.2. Tính trì trệ cố hữu của hệ thống.

Dù sao chăng nữa thì những thể chế, những cấu trúc kinh tế của Nhật Bản này đã tồn tại ít ra là hàng chục năm nay, đã ăn sâu vào suy nghĩ và lối sống của cả một đất nước, nên việc thay đổi và loại bỏ chúng trong một sớm một chiều là rất khó. Hơn nữa, tình trạng này lại tồn tại trong một dân tộc (Nhật Bản) vốn nổi tiếng với phong cách làm việc và quyết sách rất thận trọng, từ từ, vừa làm vừa nghe ngóng và điều chỉnh, nên việc có được những chính sách cải cách và cải tổ mang tính cách mạng và nhanh chóng là rất khó. Đúng như ông Ichiro Ozawa, Chủ tịch Đảng Tiền phong Mới, tách ra thành đảng đối lập từ LDP, đã thừa nhận, “Đối với chúng ta (Nhật Bản), không có lựa chọn nào khác ngoài việc lần thứ ba phải mở cửa Nhật Bản – mở cửa các thị trường của chúng ta rộng hơn cho cộng đồng quốc tế, loại bỏ những quy chế và quy tắc đang kiềm chế sáng kiến, sáng tạo và tăng trưởng kinh tế. Song tôi không hề ảo tưởng về tính khó khăn và lâu dài của nhiệm vụ này. Bởi vì, Nhật Bản luôn là một xã hội được điều tiết từ hơn 1000 năm nay”. Đồng thời, cũng theo ông này, “hầu hết người Nhật Bản vẫn cảm thấy không thoải mái và mất phương hướng trước triển vọng phải sống trong một xã hội có quá ít quy định và trong đó mỗi người sẽ phải tự lực cánh sinh nhiều hơn và phải có trách nhiệm hơn trước mỗi hành động của riêng mình”.

Hơn nữa, ở bất cứ nước nào cũng vậy, những cải cách và cải tổ do các đời thủ tướng Nhật Bản, nhất là Thủ tướng J. Koizumi, đưa ra, vốn đã hết sức khó khăn dù được tiến hành trong những hoàn cảnh hết sức thuận lợi (cả về kinh tế, chính trị lẫn xã hội), thế mà trong bối cảnh nền kinh tế, chính trị và xã hội đang trì trệ và có quá nhiều vấn đề như Nhật Bản hiện nay, thì việc tiến hành chúng chắc chắn sẽ càng trở nên chậm chạp và khó khăn hơn nhiều lần. Bởi vì, mỗi một cải cách, một chính sách đổi mới dù nhỏ, đều đồng nghĩa với việc xã hội sẽ bị đảo lộn, nền kinh tế sẽ bị đẩy sâu thêm vào tình trạng trì trệ, cuộc sống của người dân sẽ bị khó khăn thêm, hậu quả là sẽ có nguy cơ vấp phải sự chống đối quyết liệt, và có lẽ người phải trả giá trước hết có lẽ là các nhà cải cách, cho nên họ càng phải thận trọng hơn.