Choose your language:
 
Cấu trúc Website
Tìm kiếm nâng cao
Điều kiện và Bảo mật
Liên hệ
       
     ĐĂNG NHẬP
   
   
 
Quên mật khẩu
Đăng ký tài khoản
 
Publication Notices
Yahoo SkyPE
Japan
Links
Vietnam
Links
            SỰ KIỆN SẮP DIỄN RA
04-04-2008
31-03-2008
31-03-2008
31-03-2008
Xem tất cả   
 
            THỐNG KÊ
Hỗ trợ giảng dạy tiếng Nhật tại Trung tâm(27)
Lễ hội hoa anh đào Nhật Bản tại Việt Nam 2008(25)
Lĩnh vực hoạt động(17)
Công ty TNHH Xúc tiến các Giải pháp TMĐT - ECOPRO(13)
            ĐĂNG KÝ NHẬN TIN
            Hợp tác Kinh tế
       NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ NỚI LỎNG ĐIỀU TIẾT TÀI CHÍNH SAU THỜI KỲ TĂNG TRƯỞNG CAO Ở NHẬT BẢN
 


1. Những hạn chế chủ yếu trong chính sách tài chính của Nhật Bản.

Cơ cấu tài chính hai tầng và chế độ độc quyền tài chính (financial obligachy) đặc biệt là hệ thống lãi suất thấp một cách chủ quan, thoát ly thị trường và sự tăng lượng tín dụng của Ngân hàng Nhật Bản (BOJ) đã củng cố, gia tăng tính cứng nhắc, bất biến của cơ cấu tài chính này. Cụ thể là:

 

+ Trong thời kỳ sau Chiến tranh Thế giới lần II, đặc biệt trong thời kỳ tăng trưởng cao, lãi suất tiền gửi của các ngân hàng được qui định tương đối thấp theo Luật Điều chỉnh tạm thời lãi suất năm 1948. Mặc dù được gọi là tạm thời nhưng Luật Điều chỉnh trên vẫn phát huy hiệu lực cho đến năm 1992. Theo luật này, Bộ Tài chính qui định mức lãi suất và Ngân hàng Nhật Bản qui định mức trần trên của các lãi suất đó, còn các ngân hàng thành phố được BOJ cho vay với lãi suất thấp nhằm hình thành nguồn dự trữ bắt buộc của các ngân hàng này tại BOJ. Bên cạnh hệ thống ngân hàng, các tổ chức tài chính trung gian khác cũng hoạt động theo phương thức tập trung tài chính trên.

+ Các ngân hàng thành phố lớn thường không chú trọng đến việc đảm bảo một tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi trên, cấu kết với các doanh nghiệp lớn trong việc vay và cho vay quá mức, thậm chí các nguồn vốn ngắn hạn, vốn lưu động cũng được cho vay như vốn dài hạn với lãi suất thấp. Do đó dẫn đến sự dư thừa quá mức thanh khoản và gây ra lạm phát trầm trọng trong những năm 1972 - 1973.

+ Bên cạnh hệ thống lãi suất được qui định một cách chủ quan và với ưu thế của hệ thống ngân hàng trong c cấu tài chính thời kỳ tăng trưởng cao nên các thị trường tài chính như thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu, thị trường tài chính ngắn hạn về thực chất không được chú trọng hình thành và phát triển. C cấu nguồn vốn không được cấu thành một cách đầy đủ, thiếu sự tham gia của các nguồn vốn trong các thị trường tài chính thông qua sự môi giới các chứng khoán ngắn và dài hạn. Trong thời kỳ tăng trưởng cao, mặc dù có sự gia tăng nguồn vốn tài chính nhưng thiếu sự vận hành thông qua các thị trường tài chính đã gây ra những hạn chế nhất định. Điều đó thể hiện ở tính cạnh tranh, tính sinh lời của hệ thống tài chính thấp. Những hạn chế của các công ty đa quốc gia của Nhật Bn cũng ngày được bộc lộ một cách rõ rệt.

2. Cuộc khủng hong chứng khoán năm 1965 và lạm phát năm 1972 - 1973.

Bên cạnh những thành tựu của việc thúc đẩy sự tăng trưởng và chuyển dịch c cấu kinh tế thông qua việc tập trung nguồn vốn cho các ngành xuất khẩu và các ngành công nghiệp nặng và hóa chất, c cấu tài chính cũng bộc lộ những hạn chế, những mâu thuẫn nhất định, đặc biệt là sự gia tăng lạm phát, buông lỏng tính tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp, hạn chế sự vận động của các thị trường tài chính. Những mâu thuẫn này ngày càng trở nên sâu sắc hn thông qua cuộc khủng hong chứng khoán năm 1965 và lạm phát năm 1972 - 1973.

a. Khủng hong chứng khoán năm 1965

Trong đầu những năm 1960, do tình trạng thiếu vốn, các doanh nghiệp có xu hướng tăng nguồn vốn thông qua phát hành cổ phiếu, nhưng thị trường lại không thể bao tiêu được số cổ phiếu tăng lên đó. Hn nữa, các tín thác đầu tư bị gii thể, thị trường lưu thông trái phiếu chính phủ cũng không tồn tại, thị trường chứng khoán không phát huy được vai trò vốn có của nó do lãi suất được qui định thấp hn lãi suất thị trường, nên hầu như duy nhất chỉ có các công ty chứng khoán mua lại các cổ phiếu đã được phát hành. Điều này dẫn đến tình trạng lợi nhuận của các công ty này gim sút và mất kh năng thanh toán chi tr đối với các tổ chức tài chính khác. Sự mất kh năng thanh toán này đã tác động dây truyền đến các giao dịch ngân hàng. Mặc dù, các công ty chứng khoán và ngân hàng được huy động để giải quyết sự dư thừa cổ phiếu trên nhưng vẫn còn 3,7 tỷ cổ phiếu và 42,14 tỷ cổ phiếu theo đồng yên vẫn chưa được thanh toán. Điều đó đã dẫn đến sự phá sn của các công ty chứng khoán hàng đầu như Yama-ichi, Ooi. Trong thời kỳ này, các đối sách đối với khủng hong chứng khoán trên đã được thực hiện nhưng cơ cấu tài chính hiện tại đã không được ci cách, sửa đổi mà vẫn được tiếp tục duy trì với những mâu thuẫn vốn có của nó nên đã tiếp tục gây nên những biến động lớn, đặc biệt là sự bùng nổ siêu lạm phát trong giai đoạn sau của thời kỳ tăng trưởng cao.

b. Lạm phát năm 1972 - 1973

Cùng với sự chuyển dịch trong c cấu kinh tế theo định hướng xuất khẩu và hiện đại hóa, c cấu tài chính cũng đã đạt được những chuyển biến nhất định như đa dạng hóa các loại hình tài chính (tài chính với người tiêu dùng, quốc trái xây dựng, trái khoán bo đm của chính phủ, trái khoán bằng ngoại tệ,...) cũng như sự biến đổi nhất định trong phưng thức tích lũy và luân chuyển các luồng vốn. Bên cạnh đó, c cấu tài chính trên cũng đã bộc lộ những hạn chế chủ yếu dẫn đến lạm phát gia tăng như sự phân bổ một cách thiên lệch các nguồn vốn dẫn đến sự đầu c tài chính hn là tăng cường đầu tư vào sn xuất, phưng thức vay và cho vay quá mức, sự gia tăng trái khoán công và sự tăng lên về tín dụng của BOJ nhằm đáp ứng cung tiền cho tăng trưởng, sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng, tăng cường thế chấp tài chính đối với bất động sn.

Những hạn chế trên đã đưa đến lạm phát cao độ đặc biệt là với giá c bán buôn như tỷ lệ lạm phát so với năm trước của giá bán buôn và bán lẻ tháng 12 năm 1973 là 29% và 19,1% đỉnh điểm là tháng 2 năm 1974 là 37% và 26,3%.

3. Các nhân tố tác động trực tiếp

a. Thặng dư hóa cán cân thu chi quốc tế

Thặng dư cán cân mậu dịch bắt đầu từ năm 1968. Đồng thời trong cùng thời gian này Nhật Bn cũng bắt đầu là nước chủ nợ và nước xuất khẩu tư bn lớn hàng đầu trên thế giới. Những chuyển biến trên đã tác động đến sự biến đổi nhất định c cấu tài chính.

+ Từ cuối năm 1971, cho vay quá mức của ngân hàng đã được chấm dứt. Điều đó chứng tỏ là sự phụ thuộc quá mức của các doanh nghiệp vào cho vay của ngân hàng đã giảm bớt, năng lực tiêu hóa quốc trái của các ngân hàng được tăng cường. Các doanh nghiệp lớn bắt đầu có dự trữ vốn cố định không chỉ gửi định kỳ tại các ngân hàng mà còn đưa vào kinh doanh, luân chuyển trên thị trường tự do. Điều đó đã đặt ra những yêu cầu của sự hình thành và phát triển các thị trường vốn trong đó có thị trường mua bán lại trái khoán.

+ Tính quốc tế hoá trong các hoạt động tài chính được tăng cường, với việc ban hành Luật Qun lý Mậu dịch và Ngoại hối tháng 12 năm 1980, hoạt động giao dịch vốn với nước ngoài được dựa trên nguyên tắc của thị trường tự do, sự tách rời giữa thị trường tài chính trong nước và thị trường tài chính quốc tế cũng như sự hạn chế giao dịch vốn nước ngoài được bãi bỏ. Sự dịch chuyển sang c chế thị trường tự do và những thay đổi của tài chính quốc tế đã đặt ra những yêu cầu tất yếu đối với cải cách c cấu tài chính Nhật Bn.

b. Tác động của sự phát hành quốc trái với khối lượng lớn.

Trong thời kỳ này, để đm bo nhu cầu tăng tích lũy nội bộ, đáp ứng nguồn vốn đầu tư ngày càng gia tăng, phưng thức huy động vốn từ bên ngoài doanh nghiệp đã có sự thay đổi về c bn. Điều đó được thể hiện ở sự phụ thuộc vào nguồn vốn từ các tổ chức tài chính trung gian gim đáng kể và việc huy động vốn từ các thị trường vốn bước đầu đã được phát huy tác dụng. Bên cạnh đó, không chỉ có thị trường s cấp mà từng bước thị trường thứ cấp cũng được hình thành và phát triển. Đặc biệt trong đầu những năm 1980, tỷ trọng quốc trái trong tổng tài sn của doanh nghiệp đã tăng một cách đột biến từ 2,7% năm 1979 đến trên dưới 30%/năm trong nửa đầu các năm 1980(1). Việc luân chuyển quốc trái với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường đã gây ra những tổn thất nhất định như nguồn lợi tức của chính phủ bị gim sút và BOJ cũng không thể bao tiêu hết số quốc trái đã phát hành. Do đó, xu hướng mua bán quốc trái thông qua thị trường ngày càng chiếm ưu thế. Điều đó đã góp phần dẫn đến sự tan vỡ của hệ thống lãi suất được điều tiết một cách chủ quan và của c cấu tài chính thời kỳ tăng trưởng cao.

c. nh hưởng của phạm vi lựa chọn lãi suất tiết kiệm của cá nhân.

Cùng với sự thoát ly, gim sự phụ thuộc của doanh nghiệp đối với hệ thống ngân hàng, phần thu của ngân hàng là nguồn tiền gửi tiết kiệm có xu hướng gim sút rõ rệt. Do đó, các ngân hàng phi tìm những hình thức kinh doanh khác có lợi hn. Đối với các nguồn tiền gửi cá nhân (theo sự phân định của Ngân hàng Nhật Bn, cá nhân ở đây bao gồm c các hộ gia đình và các doanh nghiệp cá thể) không thể dùng các hình thức kinh doanh như đối với các doanh nghiệp lớn thông qua việc sử dụng tiền dự trữ ngân hàng để kinh doanh ở thị trường mua bán lại chứng khoán và chứng chỉ tiền gửi (CDs) mà chỉ có hình thức duy nhất có lợi hn gửi tiết kiệm ngân hàng là gửi tiết kiệm định kỳ ở bưu điện. Do đó đối với tiết kiệm cá nhân, phạm vi lựa chọn hình thức tiết kiệm cần được mở rộng hn nữa thông qua việc hình thành các sn phẩm tài chính mới, các hình thức đầu tư khác như tín thác đầu tư đối với các quốc trái đ• phát hành.

 
 

Nguồn: http://www.ncnb.org.vn

Quay lại trang trước

 

Các thông tin khác:

- PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HOÁ Ở NHẬT BẢN   (05-04-2008)
- CHÍNH TRỊ NHẬT BẢN TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA THIÊN NIÊN KỶ   (05-04-2008)
- NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỀN KINH TẾ NHẬT BẢN    (05-04-2008)
- QUAN ĐIỂM CỦA MỘT SỐ NHÀ NGHIÊN CỨU NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM VỀ NGUYÊN NHÂN TẠO SỰ “THẦN KỲ” NHẬT BẢN GIAI ĐOẠN NHỮNG NĂM 1970 CỦA THẾ KỶ XX    (05-04-2008)
- PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO CÔNG NHÂN TRONG CÁC CÔNG TY NHẬT BẢN HIỆN NAY   (05-04-2008)
- Lễ ký khởi công dự án xây dựng hệ thống cấp nước tỉnh Đồng Nai   (31-03-2008)
- Buổi lễ ký kế hợp đồng viện trợ trong chương trình viện trợ không hoàn lại quy mô nhỏ năm 2007   (31-03-2008)
- 80 công ty Nhật Bản sẽ tới VN tìm cơ hội đầu tư    (31-03-2008)
- Nhật Bản mua quyền thải khí thải của Trung Quốc   (31-03-2008)
- Nhật Bản sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam cải cách tư pháp   (31-03-2008)
 
 
Số lượt truy cập: 17719
Thiết kế bởi: